Phần 3: Góc nhìn sâu sắc về hoạt động và mô hình kinh doanh của ngân hàng quân đội MBBank - mục tiêu phân tích để có thể đi vốn lớn và quản trị rủi ro hiệu quả
Đôi lời tác giả gửi gắm:
Không phải tự nhiên mà MBB lại kín room ngoại từ đầu 2025 đến nay, được các quỹ ngoại săn đón và đặt cọc trước, được SBV chuyển giao ngân hàng 0đ và nới room tín dụng. Một ngân hàng với tỷ lệ Nim (%) rất tốt, tỷ lệ Casa (%) hàng đầu hệ thống, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng vượt trội thuộc hàng top trong bối cảnh Thủ tướng Chính phủ thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, vị thế uy tín ngang ngửa nhóm Big4... Gần đây lại có câu chuyện trích lập dự phòng khủng bất chấp bối cảnh Luật hóa Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu.
Có quá nhiều yếu tố cần quan tâm để ta có thể hiểu và đánh giá sâu sắc nhất về tiềm năng và rủi ro khi đi vốn lớn vào MBB, từ góc nhìn của tác giả, tác giả mong muốn có thể chia sẻ phần nào những hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để Nhà đầu tư có thể đưa ra những lựa chọn phù hợp nhất.
Bài viết sẽ chia làm 4 phần; Phần 1 tập trung vào sự thay đổi chiến lược của MBB qua từng thời kỳ dưới sự dẫn dắt của các lãnh đạo khác nhau; Phần 2 bao gồm 2.1 2.2, tập trung đào sâu vào hệ sinh thái Tập đoàn MB gồm Ngân hàng MBB, Bảo hiểm MIG, Bảo hiểm MB Ageas Life, Chứng khoán MBS, Quỹ đầu tư MBCapital, Tín dụng tiêu dùng MCredit; Phần 3 đào sâu vào hoạt động kinh doanh cốt lõi của Ngân hàng MB; Phần 4 tác giả đưa ra định giá cho cổ phiếu MBB, tiềm năng tăng giá và rủi ro giảm giá.
Bài viết được tác giả nghiên cứu trong thời gian dài, rất mong quý đọc giả quan tâm và sử dụng tài liệu, vui lòng ghi tên nguồn.
IV) PHÂN TÍCH NỘI TẠI NGÂN HÀNG MBB
1) HOẠT ĐỘNG CHÍNH: CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG
Trong giai đoạn từ 2017 trở về sau, Nim (%) của MBB bắt đầu có sự tăng trưởng tốt, đạt đỉnh gần 6% vào 2022, bắt đầu suy giam từ 2022 và đến nay vẫn giữ nguyên chiều hướng suy giảm đó. Nim (%) bằng Thu nhập lãi thuần chia cho Tổng tài sản, do đó, sự suy giảm hay gia tăng mạnh của 2 yếu tố sẽ ảnh hưởng đến Nim ngân hàng. Trong giai đoạn 2020 đến 2022, tăng trưởng thu nhập lãi thuần MBB liên tục tăng từ 11% (2020) đến gần 40% (2022), sau đó chứng kiến đà suy giảm trầm trọng khi chỉ trong 2 năm sau đó, thu nhập lãi thuần tăng rất yếu chỉ gần 10%. Mặc khác, tăng trưởng tổng tài sản MBB có sự tăng đều hơn và chỉ thực sự giảm đà tăng vào 2024, khi chỉ tăng 20%. Như vậy, có thể kết luận nguyên nhân dẫn đến Nim (%) của MBB suy giảm trong giai đoạn gần đây chủ yếu do tăng tưởng thu nhập lãi thuần không theo kịp với tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, hay nói cách khác là tài sản gần đây của MBB sinh lời không hiệu quả.
a) Về thu nhập lãi thuần:
Quan sát bảng trên, ta thấy nguyên nhân thu nhập lãi thuần tăng trưởng rất chậm những năm gần đầy chủ yếu đến từ YOEA giảm rất đáng kể, trong khi đó COF mặc dù có giảm những vẫn không theo kịp đà giảm sâu của YOEA; Về giá trị tuyệt đối, “thu nhập lãi và các khoảng thu nhập tương tự” có xu hướng đi ngang, trong khi “chi phí lãi và các chi phí tương tự” lại giảm nhẹ, như vậy, rõ ràng rằng MBB tăng trưởng tín dụng rất mạnh, dẫn đến tăng trưởng tổng tài sản rất cao, nhưng thực chất thì lại không sinh ra được lợi nhuận, dẫn tới lợi nhuận đi ngang, tổng tài sản tăng mạnh dẫn tới YOEA giảm mạnh.
b) Về hoạt động phát hành tín dụng:
Nói về nguyên nhân tài sản của một ngân hàng bỗng nhưng sinh lợi kém, có rất nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân khách quan đó là do những năm gần đây kinh tế yếu kém, mặt bằng lãi suất cho vay chung trên thị trường giảm khá đáng kể, Nim (%) ngân hàng nào cũng dò đáy chứ không chỉ riêng MBB. Tuy nhiên, MBB lại dò đáy sâu hơn mặt bằng chung các ngân hàng, một trong những nguyên nhân dẫn đến điều này là tập đoàn MB cho vay chồng chéo các công ty con, vừa phục vụ mục đích tăng trưởng tín dụng ảo, vừa phục vụ mục đích cho vay tập trung đối tác chiến lược, đã được đề cập trong các phần phân tích về các công ty con phía trên, do cho vay chồng chéo, tiền từ thành viên này qua thành viên khác để tăng quy mô ảo chứ không thực sự sinh ra lợi nhuận, do đó, tác giả đánh giá đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới YOEA giảm mạnh và Nim (%) dò đáy.
c) Về hoạt động huy động vốn:
Nói về câu chuyện huy động vốn của MBB, hay huy động vốn của ngân hàng nói chung, ta sẽ bàn với nhau về chỉ số CASA (%) tức thể hiện tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn trên tổng tài sản, hay gọi là vốn 0 đồng, và lãi suất tiền gửi, hay lãi suất huy động trên thị trường.
Những năm gần đây, thị trường nhận định tỉ lệ CASA (%) như là một thông số quan trọng đo lường khả năng tiếp cận nguồn vốn giá rẻ của các ngân hàng. Các ngân hàng chạy đua để tăng mức CASA (%), như là một phần của chiến lược tổng thể, 3 ngân hàng có mức CASA (%) cao hơn hẳng mặt bằng chung các ngân hàng còn lại, đang chạy đua sát nhau là TCB (CASA Q4,2024 37.4%), MBB (CASA Q4,2024 39.1%), VCB (CASA Q4,2024 35.8%).
Cuộc đua về CASA (%) bắt đầu từ những năm 2017, 2018, khi các ngân hàng bắt đầu có những động thái bao gồm (1) Hướng tới các loại phí giao dịch về mức 0đ (2) Tập trung phát triển dịch vụ Online Banking, hướng tới đa dạng các dịch vụ tài chính (3) Mở rộng nhận diện thương hiệu, chiếm thị phần thẻ tín dụng, tài trợ các chương trình văn hóa.
Những cái tên lần lượt nằm trong danh sách tiêu biểu về tăng trưởng tỉ lệ CASA (%) là Vietcombank, Techcombank, MBBank, MSN:
- Nổi trội nhất vẫn là TCB, khi có thời điểm họ đạt mức CASA (%) gần 51%, tuy nhiên, đến hiện nay, họ có dấu hiệu chững lại và suy giảm.
- Tương tự, MBBank hiện tại có mức CASA cao nhất ngành đạt mức 39.1%, tuy nhiên đây cũng là kết quả của sự suy giảm, khi trong vòng một năm, họ giảm khoảng 2.5%.
- Mặc khác, ở VCB thì ta thấy sự tăng trưởng rõ rệt khi tăng 1.95% YTD, lên mức 35.8%, gần bằng MBB, TCB.
- Còn ở MSN có sự sụt giảm trầm trọng, khi những năm 2019, 2020, MSN được xếp ngang hàng mức CASA với các bank lớn, khoảng hơn 30%, tuy nhiên, do các tin tức tiêu cực ( Vd như khách hàng mất tiền tài khoản MSN, mất vài chục tỷ…) được báo chí đưa lên, nên dần họ mất thị phần.
MBB mặc dù có mức CASA thuộc hàng top, nhưng COF (%) lại không quá nổi trội:
Như đã biết, CASA (%) phần nào tượng trưng cho mức độ chi phí huy động vốn của ngân hàng, ở MBB có mức CASA (%) cao nhất toàn ngành, nhưng chỉ số COF (%) lại không phản ánh lợi thế giá vốn rẻ.
Cả MBB và TCB đều có mức CASA (%) cao, tuy nhiên hệ số COF (%) lại cao hơn VCB khoảng 100 điểm phần trăm, COF (%) được tính bằng chi phí lãi/ nguồn vốn huy động tính lãi bình quân, điều này có nghĩa là khả năng huy động nguồn vốn giá rẻ của VCB tốt hơn MBB và TCB. Lý do của việc này là do mặc dù MBB và TCB đều huy động được nguồn vốn lớn từ tiền gửi không kỳ hạn, tuy nhiên, tiền gửi có kỳ hạn, đặc biệt là các kỳ hạn ngắn hạn (từ 1 tháng đến 9 tháng) của VCB nói riêng và nhóm Big4 nói chung đều có mức lợi suất rất thấp so với trung bình ngành (khoảng 2-2.5%/năm so với mức >4%/năm của các ngân hàng tư nhân), vì nhóm Big4 đã xây dựng được vị thế là nơi giữ tiền ngắn hạn an toàn tuyệt đối nhất Việt Nam, thế nên trong mindset của người Việt, cứ gửi tiết kiệm ngắn hạn, lợi suất có nhưng không nhiều, thì sẽ quan tâm đến an toàn nhiều hơn, họ đến ngân hàng quốc dân mà gửi. Chính vì lợi thế như vậy, VCB có thể huy động được nguồn vốn giá rẻ hơn so với MBB và TCB.
Mặc dù có thể nếu so sánh với nhóm Big4, thì lợi suất của MBB vẫn là cao hơn rất nhiều, tuy nhiên, nhìn tổng thể mặt bằng lãi suất chung của các ngân hàng tư nhân, lợi suất MBB vẫn là ở mức sàn 4 - 4.3% so với biên độ 4 - 5% của các ngân hàng tư nhân. Điều này cho thấy trong các ngân hàng ngoài nhóm big4, vị thế an toàn tài chính trong mindset khách hàng ở MBB vẫn cao hơn mặc bằng chung.
Kết luận: Để có thể xây dựng vị thế như nhóm Big4, theo tôi, hiện tại ngân hàng MB vẫn chưa làm được, do số liệu tài chính đã phản ánh vào nhận định, tuy nhiên, để nói tiềm năng nâng cao vị thế, thì MBB hội tụ đủ các yếu tố quan trọng (1) Tổng tài sản nằm trong top đầu ngành (2) Cổ đông đứng sau là Bộ Quốc Phòng, có thể coi là chính phủ (3) Hơn thế nữa, một điều đặc biệt ở MBB đó là nhận tiếp quản Ocean Bank, việc này sẽ gia tăng uy tín của MBB đối với ngân hàng nhà nước, khách hàng và cổ đông, được SBV nới room nhiều hơn.
2) CHẤT LƯỢNG TÀI SẢN
Quan sát biểu đồ, ta thấy tỷ lệ nợ xấu của MBB đạt đỉnh đầu tiên vào 2014 khoảng 2.7%, bắt đầu đà suy giảm về đáy khoảng hơn 1%, từ giai đoạn 2020 đến 2024 chúng kiến NPL (%) lên xuống thất thường, NPL (%) bằng nợ xấu nhóm 3, 4, 5 chia tổng dư nợ, do đó nguyên nhân của việc nợ NPL (%) dao động thất thường như vậy do nợ xấu nhóm 3, 4, 5 có sự tăng trưởng và suy giảm thất thường.
Tương tự, tỷ lệ bao phủ nợ xấu cũng có sự biến thiên thất thường, nguyên nhân là do sự lên xuống của nợ xấu nhóm 3, 4, 5.
Câu chuyện nợ xấu tại MBB:
Nợ xấu có sự biến thiên thất thường tập trung ở nợ nhóm 5, khi chỉ trong năm 2020 sang 2021, nợ nhóm 5 tăng từ 1300 tỷ (2020) lên 7900 tỷ (2021), sau đó lại giảm về 2200 tỷ (2022) rồi tăng mạnh lên 12000 tỷ (2023), đến 2024 thì giảm còn 4600 tỷ, vậy có phải là nợ xấu của MBB trong giai đoạn 2021 đến 2024 có thực sự xấu không? Một vài phép thống kê cho thấy trong giai đoạn lũy kế 2016 - 2020, tổng trích lập chung và trích lập cụ thể của MBB là khoảng 12000 tỷ thì tiền sử dụng mỗi năm để bù đắp cho nợ xấu không có khả năng thu hồi lên đến 11000 tỷ, tức sử dụng hơn 90% tổng số trích lập, mặc khác giai đoạn 2021 - 2024, tổng lũy kế trích lập là 37000 tỷ, thì chỉ sử dụng khoảng 29000 tỷ, khoảng 78% tổng số trích lập, vậy có thể thấy giai đoạn gần đây, MBB đã chuẩn bị sẵn một bộ đệm vốn dày hơn.
Theo cá nhân tác giả, năm 2021 - 2022, đó là giai đoạn bùng nợ lợi nhuận của MBB, do thời điểm đó khi Covid 19 đã lắng bớt, dòng vốn đổ mạnh vào thị trường bất động sản gây sốt đất, từ đó kích thích tăng trưởng tín dụng mạnh dẫn đến lợi nhuận trước thuế MBB năm 2021, 2022 có sự tăng đột phát từ 10000 tỷ (2020) lên 16000 tỷ (2021) và đạt mức 22000 tỷ (2022); Do lợi nhuận dư quá nhiều, MBB tạm trích lập dự phòng để giành cho tương lai, khi đó tăng mạnh tổng trích lập dự phòng từ 6100 tỷ (2020) lên 7900 tỷ (2021) và 7800 tỷ (2022), thậm chí tiền mặt sử dụng để bù đáp cho nợ xấu không có khả năng thu hồi lại còn giảm từ 4900 tỷ (2020) còn 3500 tỷ (2021) và 4600 tỷ (2022) mặc cho tăng trích lập dự phòng.
Giai đoạn năm 2023 - 2024 là giai đoạn thực sự khó khăn, khi này MBB đã sử dụng lượng trích lập bù đắp cho nợ xấu không có khả năng thu hồi, cũng giai đoạn này chứng kiến nợ xấu nhóm 5 tăng rất mạnh từ 2000 tỷ lên 12000 tỷ, theo tôi, báo cáo tài chính MBB thời điểm này mang tính chất động cơ chính trị nhiều hơn. Cần nhớ rằng cuối tháng 4/2023, SBV ban hành Thông tư 02/2023/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn; Đối tượng được xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ là những khách hàng gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và gặp khó khăn trong việc trả nợ các khoản vay phục vụ đời sống, tiêu dùng; Trong bối cảnh toàn ngành được gia hạn nợ thì ta lại chứng kiến nợ xấu bùng nổ tại MBB với 5000 tỷ (2022) lên đến 19000 tỷ (2023), điều này hết sức là vô lý. Mặc khác, cũng trong tháng 4/2023, Thượng tướng Lê Hữu Đức xin từ nhiệm Chủ tịch HDQT theo nguyện vọng cá nhân mặc dù nhiệm kỳ chỉ còn 1 năm, sau đó người được tin tưởng trở thành chủ tịch HDQT là Đại tá Lưu Trung Thái, tân CEO MBB được bầu ngay trong tháng 5 tiếp theo là ông Phạm Như Ánh, một người rất trẻ chỉ mới 43 tuổi vào thời điểm đó. Đến 31/12/2024, khi Thông tư 02/2023/TT-NHNN và gia hạn Thông tư 02/2023/TT-NHNN (TT02) đã hết hạn, lẽ ra các ngân hàng sẽ lộ ra nhiều nợ xấu hơn, tuy nhiên BCTC của MBB đã ghi nhận thành tích rất tốt khi giảm tỷ lệ nợ xấu mạnh từ 19000 tỷ xuống còn 12000 tỷ, ngoài ra họ sử dụng hơn 9000 tỷ cho việc bù đắp cho nợ xấu không có khả năng thu hồi (con số cao nhất từ trước tới giờ, trước đó là 6621 tỷ), tỷ lệ nợ xấu giảm còn 1,62%, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng tốt lên 92%. Ta thấy được rằng, thời điểm tướng mới lên thay, cũng chính là thời điểm họ “take a big bath”, đem ra phơi bày và dọn dẹp hàng loạt tàn dư của thời kỳ trước, nhờ đó những người lãnh đạo sau này sẽ đạt được những thành tích tốt, có sự tuyên dương và quan trọng hơn là được thăng tiến trên con đường sự nghiệp chính trị của họ, như gần đây, nhờ thành tích tốt trong nhiều năm liền, đỉnh điểm là lợi nhuận Q1 2025 của MBB cao lịch sử, ngày 24/4/2025, Chủ tịch nước Lương Cường đã ký quyết định thăng quân hàm cho ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) từ Đại tá lên Thiếu tướng.
3) KHẢ NĂNG THANH KHOẢN
Theo thông tư 22/2019/TT-NHNN, LDR (%) được tính bằng tổng cho vay khách hàng trên tổng huy động từ khách hàng, không bao gồm kênh giấy tờ có giá và nợ chính phủ, trần do SBV quy định là 85%, tuy nhiên thực tế ngân hàng thương mại nào cũng vượt quá mức quy định của SBV do chạy theo tăng trưởng tín dụng cao, đơn cử LDR (%) theo thông tư 22 của MBB đã vượt mức 85% từ 2022, tiệm cận đến 92% vào 2024. LDR (%) càng cao thì mức Nim (%) càng tốt, tuy nhiên sẽ dễ gặp rủi ro về thanh khoản khi bất ngờ có biến cố xảy ra, như trường hợp SCB vào 2022. Nếu so sánh với nhóm Big4 thì BID (LDR (%) = 95.54%), VCB (LDR(%) = 94.18%), CTG (LDR(%) = 97.96%), vốn dĩ nhóm Big4 có vị thế thanh khoản tốt hơn, khó gặp rủi ro về hệ thống nên LDR (%) cao là chuyện hợp lý, thì LDR MBB (%) = 92% sẽ là phù hợp với vị thế thanh khoản của MBB hiện tại. Mặc bằng chung các ngân hàng lớn đều có LDR (%) trong khoảng 89 - 93%, MBB lại là ngân hàng thuộc quân đội, nên tôi cho rằng mức LDR (%) theo thông tư 22 này phản ánh rằng MBB rất khó để gặp rủi ro về thanh khoản.
Tuy nhiên, nếu tính luôn cả tín dụng cho các đối tác quan trọng, tức là đầu tư trái phiếu dưới hình thức “chứng khoán đầu tư”, và huy động qua kênh phát hành giấy tờ có giá của MBB, thì mức LDR 2024 đã vượt trên 100% vào 2024, điều này nghĩa là MBB tăng trưởng tín dụng tập trung quá nóng dẫn đến kênh huy động không đủ để đáp ứng nguồn cung; Trường hợp này nghĩa là MBB mua các trái phiếu của các đối tác quan trọng với mức lợi tức cao, gọi là một dạng cấp tín dụng trá hình, do không đủ vốn để tài trợ, họ phát hành trái phiếu để huy động vốn. Về bản chất thì kênh huy động tiền gửi sẽ dễ gặp rủi ro thanh khoản hơn khi khách hàng bất ngờ rút tiền ra, còn kênh phát hành trái phiếu thì MBB có thể kiểm soát được, lường trước rủi ro thanh khoản, nên có thể nói mức LDR 2024 vượt 100% không phải là xấu về mặt thanh khoản, tuy nhiên cái chúng ta cần quan tâm là nhóm đối tác của MBB có đủ năng lực để trả nợ hay không, nhóm này chủ yếu là nhóm bất động sản, nổi trội như Novaland, Trung Nam, Sun Group, Vingroup.
Trong khi đó, bộ đệm vốn cấp 1 của MBB lại khá kém, chỉ đạt 9,8%, do khó khăn cho việc tăng vốn của mặt bằng các ngân hàng công nói chung, CAR (%) của MBB được hỗ trợ nhiều từ vốn cấp 2,khoảng 1,9%, tức chủ yếu là vốn từ trái phiếu, không ổn định, có thời gian đáo hạn hầu như vào 2027 -2028; Do đó, Đại Hội Cổ Đông 2025 MBB đã thông qua phương án phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 theo hình thức chào bán riêng lẻ, dự kiến huy động 30.000 tỷ đồng từ trái phiếu, thời gian đáo hạn là khoảng giai đoạn 2032 - 2033, trong đó, 10.000 tỷ đồng sẽ được sử dụng để tăng vốn cấp 2, còn lại là phát hành trái phiếu thông thường nhằm huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh. Thực tế không phải lúc nào kênh trái phiếu cũng sẽ là kênh huy động vốn ổn định, trái phiếu do MBB phát hành hầu như có lãi suất trong khoảng 6 - 7%, không quá hấp dẫn, nếu phát hành riêng lẻ thì nhà đầu tư đa phần cũng là các cổ đông lớn của MBB như Viettel hoặc các định chế tài chính khác, mặc khác đôi khi thị trường không thuận lợi, MBB sẽ phát hành trái phiếu không thành công như gần đây, ngày 6/5/2025, mã MBB12502 được chào bán thất bại.
(còn tiếp)
Theo dõi người đăng bài
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
