Những nút thắt của thị trường đang dần thay đổi, ánh sáng đã xuất hiện nơi cuối đường?
Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ lệ ghi nhận tiền gửi KBNN từ 20% lên 50%, tạo thặng dư ngân sách tạm thời. Quyết định 1743/QĐ-NHNN hỗ trợ ngân hàng cải thiện thanh khoản và giảm áp lực lãi suất, nhưng cần theo dõi nhu cầu vay thực tế.
Cuối tháng 7/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành một quyết định : nâng tỷ lệ ghi nhận tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) trong cấu phần Tổng tiền gửi khi tính tỷ lệ LDR (Loan-to-Deposit Ratio) từ 20% lên 50%.
Trong giai đoạn đầu và giữa năm 2026, diễn biến ngân sách nhà nước cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa tốc độ thu và tốc độ chi. Thu ngân sách đã hoàn thành khoảng 62% kế hoạch năm, trong khi tổng chi ngân sách mới đạt khoảng 36,4%. Chênh lệch này tạo ra trạng thái thặng dư ngân sách tạm thời ước khoảng 419,1 nghìn tỷ đồng, trái ngược với kế hoạch cân đối ngân sách cả năm dự kiến thâm hụt khoảng 605,8 nghìn tỷ đồng.
Về mặt tài khóa, đây không nhất thiết là dấu hiệu của một vị thế ngân sách cải thiện bền vững. Thặng dư chủ yếu phản ánh yếu tố thời điểm: thu ngân sách diễn ra nhanh hơn chi ngân sách, trong đó giải ngân đầu tư công và các khoản chi đầu tư phát triển có độ trễ tương đối lớn. Tuy nhiên, xét dưới góc độ tiền tệ và thanh khoản hệ thống, tác động ngắn hạn là rất đáng chú ý.
Khi Chính phủ thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác từ khu vực tư nhân, tiền gửi của doanh nghiệp và người dân được chuyển từ hệ thống ngân hàng thương mại vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước. Nếu nguồn tiền này tiếp tục được giữ tại Kho bạc trong một thời gian dài thay vì được chi trở lại nền kinh tế hoặc gửi tại các ngân hàng thương mại, thanh khoản đồng Việt Nam trong hệ thống ngân hàng có xu hướng bị thu hẹp.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy thặng dư ngân sách lớn đồng nghĩa Nhà nước đang thu tiền từ khu vực tư nhân và nền kinh tế nhanh hơn tốc độ bơm trở lại thông qua chi tiêu công. Nếu lượng tiền này được giữ tại Kho bạc Nhà nước và chưa gửi lại vào hệ thống NHTM sẽ tiếp tục gây ra hiệu ứng thiếu hụt thanh khoản, điều này vẫn sẽ khiến các NHTM chịu áp lực phải huy động nguồn vốn khác thông qua tăng lãi suất huy động hoặc phụ thuộc vào thanh khoản thị trường vốn có mức chi phí vốn cao trong giai đoạn vừa qua. Với việc lượng bơm hút ròng thị trường mở liên tục giảm, điều này đặt áp lực điều tiết thanh khoản của hệ thống lên vai kho bạc nhà nước. Thứ mà chúng ta đã thấy trong năm 2025 và đầu năm 2026 khi hệ thống lệ thuộc rất lớn vào tiền gửi kho bạc và tiền gửi thị trường 2 trong giai đoạn tín dụng tăng nhanh, huy động tăng chậm kéo theo cuộc đua về lãi suất huy động.
Chi tiết về quyết định 1743/QĐ-NHNN:
Về bản chất, đây là cơ chế nới lỏng về măt tỷ lệ thay vì bơm tiền mới. Với mỗi 1.000 tỷ đồng tiền gửi kỳ hạn KBNN mà một ngân hàng thương mại đang nắm giữ, phần được công nhận vào mẫu số LDR tăng thêm khoảng 300 tỷ đồng (từ 200 tỷ lên 500 tỷ) — tương đương dư địa cho vay bổ sung tối đa khoảng 255 tỷ đồng tại trần LDR 85%, hoàn toàn không phát sinh từ huy động vốn thực tế.
Lợi ích này phân bổ không đồng đều. Nhóm hưởng lợi lớn nhất là các NHTM Nhà nước (Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank) — nhóm truyền thống nắm giữ tỷ trọng lớn nhất tiền gửi KBNN nhờ quan hệ đại lý ngân sách — cùng một số NHTMCP lớn tham gia đấu thầu tiền gửi Kho bạc qua Sở Giao dịch NHNN. Nhóm NHTMCP quy mô nhỏ, không có quan hệ tiền gửi KBNN, gần như đứng ngoài tác động trực tiếp mà sẽ lan tỏa thông qua thị trường liên ngân hàng.
Ví dụ về tiền gửi của kho bạc nhà nước tại Q2/2026 của VCB
Ví dụ về tiền gửi của kho bạc nhà nước tại Q2/2026 của TCB
Tác động của quyết định 1743/QĐ-NHNN:
Theo ý kiến chủ quan của tác giả để đánh giá được quyết định 1743/QĐ-NHNN cần phải lồng ghép trong bối cảnh của Nghị quyết 168/NQ-CP, cụ thể:
Mới đây trong Nghị quyết 168/NQ-CP, Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ động quyết định hạn mức sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại. Nếu cần thiết, hạn mức này có thể vượt 50% số ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi. Theo đó có thể thấy 3 lợi ích theo góc nhìn của tác giả
Thứ nhất, nguồn tiền nhàn rỗi có thể được tối ưu hóa hiệu quả sử dụng. Thay vì để toàn bộ nguồn vốn tồn tại dưới dạng số dư không sinh lời hoặc sinh lời thấp tại Kho bạc, Nhà nước có thể gửi có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng phù hợp, vừa bảo đảm nguyên tắc an toàn vốn, vừa tạo ra thu nhập tài chính cho ngân sách.
Thứ hai, chính sách làm giảm tính đột ngột của dòng tiền ngân sách đối với thanh khoản ngân hàng. Trong bối cảnh thu ngân sách tăng nhanh, tiền bị rút khỏi các ngân hàng thương mại có thể quay trở lại hệ thống dưới dạng tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc. Đây là sự tái phân phối thanh khoản từ cùng một nguồn tiền, nhưng với cấu trúc kỳ hạn và chủ thể sở hữu khác.
Thứ ba, tiền gửi Kho bạc có thể đóng vai trò nguồn vốn bổ sung cho các ngân hàng đáp ứng tiêu chí nhận tiền gửi. Điều này giúp giảm áp lực cạnh tranh huy động tiền gửi dân cư và doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất huy động trong trường hợp thanh khoản toàn hệ thống có dấu hiệu căng hơn.
Theo quan điểm chủ quan của tác giả, đây là điều mà lẽ ra chúng ta đã phải chứng kiến ngay từ đầu năm 2026 khi mà quyết định nới trần LDR hết hạn, chính điều này đã khiến lãi suất Huy động tiếp tục tăng rất mạnh khi sự chênh lệch giữa huy động và tín dụng ngày càng mở rộng vào cuối năm 2025 và đầu 2026.
Khi đặt cả 2 chung 1 lăng kính, chúng ta có thể thấy các lợi ích trước mắt như:
Tiền quay lại hệ thống ngân hàng: Nguồn vốn ngân sách đang “nằm yên” được chuyển thành tiền gửi của KBNN, bổ sung nguồn vốn ổn định và chi phí tương đối thấp cho các ngân hàng.
LDR giảm về mặt kỹ thuật: Khi tiền gửi tăng, mẫu số của LDR tăng; vì vậy LDR giảm, tạo thêm khoảng trống dưới trần quy định để ngân hàng mở rộng tín dụng.
Dư địa cho vay tăng từ phía cung: Không cần tăng mạnh lãi suất huy động hay phụ thuộc nhiều vào thị trường liên ngân hàng, các NHTM có thêm vốn để cho vay ra nền kinh tế.
Giảm áp lực thanh khoản hệ thống: Biện pháp này bù một phần thanh khoản bị hút về KBNN do thặng dư ngân sách và giải ngân đầu tư công chậm, qua đó hỗ trợ điều hành tiền tệ.
Hàm ý đối với lãi suất trong thời gian tới:
Khi bài toán thanh khoản được ổn định hơn, trước mắt lãi suất trên thị trường 2 sẽ điều chỉnh hạ nhiệt (điều này cần duy trì lượng tiền gửi kho bạc ổn định và NHNN không để đáo hạn hết 140 nghìn tỷ OMO hiện tại). Tiếp theo LDR của các ngân hàng, đặc biệt là nhóm Big4 sẽ hạ nhiệt tốt hơn khi làm tăng phần Deposit trong công thức tính LDR. Khi Big4 có dư địa vốn tốt hơn thì cũng sẽ lan tỏa sang các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng và có thể lan tỏa sang LDR của các ngân hàng khác thông qua tăng lượng tiền gửi TT2 trong mẫu số của họ.
LDR và LDR cốt lõi theo tổng hợp của tác giả
Trong những ngày gần đây, lãi suất liên ngân hàng vừa chạm đáy một năm (0.7%/năm ngày 30/7) tuy đã có sự tăng trở lại trong ngày hôm nay nhưng nhiều thông tin cho rằng đây là nhu cầu thanh khoản cục bộ vào cuối tháng, chứ có thể thấy thanh khoản của hệ thống đang dần cải thiện hơn, tỷ giá có thể sẽ tăng lên khi chênh lệch lãi suất giảm mạnh + DXY mạnh lên trong thời gian này, bằng chứng cũng thể hiện rõ khi tỷ giá bán ra của NHTM đã tăng hơn 135Đ trong tháng 7 này tương đương với mức tăng 0.53%.
Dù thế nào, chúng ta có thể kỳ vọng lãi suất huy động có thể hạ nhiệt phần nào trong thời gian tới nhờ bước đi nới thanh khoản và làm tăng vòng quay tiền như hiện tại tuy nhiên về mức độ giảm thì cần đánh giá diễn biến tiếp theo nếu tỷ giá tăng vọt thì NHNN và KBNN sẽ phối hợp như thế nào để có thể đánh giá sâu hơn
Tuy nhiên cũng cần lưu ý đây là nới lỏng về phía cung, nếu nhu cầu chưa thể hấp thụ thì kinh tế vẫn sẽ gặp thách thức lớn:
Đây chủ yếu là nới năng lực cung tín dụng; tín dụng thực tế tăng bao nhiêu vẫn phụ thuộc vào nhu cầu vay, sức khỏe doanh nghiệp và khẩu vị rủi ro của ngân hàng.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
