Bidiphar giữ được lợi nhuận đi ngang trong quý đầu tư lớn nhất lịch sử, biên lợi nhuận hồi phục nhưng chưa về lại nền cũ
CTCP Dược - Trang thiết bị Y tế Bình Định (Bidiphar, mã DBD) khép lại quý 2/2026 với kết quả kinh doanh gần như đi ngang so với cùng kỳ nhưng cải thiện rõ so với quý liền trước, trong bối cảnh công ty đang bước vào giai đoạn đầu tư tài sản cố định lớn nhất từ trước đến nay.
Doanh thu thuần đạt 472 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,6% so với cùng kỳ nhưng tăng 5,3% so với quý 1. Lợi nhuận sau thuế đạt 89 tỷ đồng, giảm 1,3% so với cùng kỳ song tăng 11% so với quý trước, đánh dấu quý thứ ba liên tiếp lợi nhuận cải thiện theo quý. Lũy kế 6 tháng, doanh thu đạt 920 tỷ đồng, tăng 0,5%, còn lợi nhuận sau thuế đạt 169 tỷ đồng, giảm 1,1% so với cùng kỳ.
Bức tranh doanh thu của Bidiphar phân hóa rõ giữa hai kênh bán hàng. Kênh đấu thầu bệnh viện ETC, vốn chiếm khoảng 65% doanh thu, đạt khoảng 308 tỷ đồng trong quý, giảm 3,2% so với cùng kỳ và tính chung 6 tháng giảm 1,4% xuống còn khoảng 596 tỷ đồng do cạnh tranh đấu thầu gia tăng. Đây là điểm cần lưu ý vì kênh ETC hiện đang tập trung ở các nhóm thầu có biên lợi nhuận thấp hơn khi công ty chủ yếu trúng thầu thuốc nhóm 3 và nhóm 4; việc nâng chuẩn nhà máy lên GMP-EU để có thể tham gia đấu thầu ở nhóm 1-2 được xem là động lực cải thiện vị thế cạnh tranh của kênh này trong trung hạn, nhưng đây vẫn là kế hoạch chưa hoàn tất chứ chưa phải kết quả đã đạt được. Ngược lại, kênh nhà thuốc OTC tăng trưởng khá vững, đạt khoảng 159 tỷ đồng trong quý, tăng 10,4% so với cùng kỳ và nâng tỷ trọng lên 33,6% từ 30,3% một năm trước; lũy kế 6 tháng kênh này tăng 9,2%. Đáng chú ý, phần dược phẩm mua ngoài để phân phối qua kênh OTC đã thu hẹp đáng kể, cho thấy công ty đang dịch chuyển cơ cấu bán hàng về phía sản phẩm tự sản xuất có biên lợi nhuận cao hơn thay vì mở rộng quy mô bằng hàng thương mại.
Biên lợi nhuận gộp là điểm sáng của quý này khi đạt 47,8%, tăng 2,3 điểm phần trăm so với quý 1 và là quý thứ ba liên tiếp hồi phục kể từ đáy 42,6% của quý 3/2025. Dù vậy, mức này vẫn thấp hơn 3,3 điểm phần trăm so với nền cao 51,1% của quý 2/2025, cho thấy quá trình phục hồi biên lợi nhuận vẫn đang ở giữa chặng đường chứ chưa quay lại mức trước đây. Riêng dòng dược phẩm tự sản xuất, biên gộp ước đạt khoảng 49,2%, cao hơn biên gộp hợp nhất chủ yếu do khoản chiết khấu giảm trừ khoảng 10 tỷ đồng. Chi phí bán hàng trong quý giảm mạnh 21,1% xuống còn 105 tỷ đồng, tương đương 22,2% doanh thu so với mức 28% cùng kỳ, giúp biên lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính đạt 20%, cao nhất trong bốn quý gần đây dù vẫn thấp hơn mức 21,6% của quý 2/2025. Việc kiểm soát chi phí bán hàng chặt chẽ hơn đang đóng vai trò quan trọng trong việc bù đắp cho biên gộp chưa phục hồi hoàn toàn.
Một điểm cần làm rõ khi nhìn vào lợi nhuận trước thuế là phần đóng góp không đến từ hoạt động kinh doanh cốt lõi. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính trong quý giảm 8,1% so với cùng kỳ, nhưng lợi nhuận trước thuế vẫn tăng nhẹ 1,1% lên 108 tỷ đồng nhờ doanh thu tài chính tăng gấp đôi lên 10,3 tỷ đồng, chủ yếu từ lãi tiền gửi, cùng khoản lãi từ công ty liên kết tăng lên 8,7 tỷ đồng. Nói cách khác, phần cải thiện của lợi nhuận trước thuế trong quý phần nào dựa vào các khoản thu ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh chính, trong khi bản thân hoạt động cốt lõi vẫn đang suy giảm nhẹ so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế cuối cùng giảm nhẹ hơn nữa so với lợi nhuận trước thuế do thuế suất hiệu dụng tăng lên 17,6% từ 15,7% cùng kỳ.
Diễn biến đáng chú ý nhất trong bảng cân đối kế toán là quy mô đầu tư xây dựng cơ bản dở dang đã tăng lên 622 tỷ đồng, gấp 2,9 lần cùng kỳ năm trước, tập trung vào hai dự án nhà máy mới sản xuất thuốc vô trùng thể tích nhỏ và thuốc rắn dạng uống non-betalactam, với tổng mức đầu tư theo kế hoạch lần lượt khoảng 840 tỷ và 870 tỷ đồng. Đây được xem là chu kỳ đầu tư tài sản cố định lớn nhất trong lịch sử hoạt động của công ty. Việc giải ngân vốn cho hai dự án này đang bắt đầu tạo áp lực lên dòng tiền: tiền ròng (tiền và đầu tư ngắn hạn trừ nợ vay) cuối quý 2 thu hẹp còn 268 tỷ đồng, giảm so với mức 302 tỷ đồng cuối quý 1, do dòng tiền kinh doanh trong quý chỉ đạt 48 tỷ đồng, không đủ bù đắp cho mức capex 92 tỷ đồng. Tồn kho theo giá gốc cũng tăng 40% từ đầu năm lên 557 tỷ đồng, phần nào phản ánh việc công ty đang chuẩn bị nguyên vật liệu và thành phẩm cho giai đoạn mở rộng sản xuất. Vốn chủ sở hữu giảm nhẹ về 1.737 tỷ đồng từ 1.817 tỷ đồng do khoản trích lập 168,5 tỷ đồng cho cổ tức và các quỹ, tuy nhiên đây mới là bút toán trích lập, phần chi trả bằng tiền mặt thực tế trong 6 tháng chỉ mới 0,5 tỷ đồng nên nghĩa vụ chi trả cổ tức vẫn còn ở phía trước và có thể tiếp tục ảnh hưởng đến thanh khoản trong các quý tới.
Cần lưu ý rằng phần vốn còn thiếu cho hai dự án nhà máy hiện đang trông chờ vào một phương án phát hành cổ phiếu riêng lẻ cho nhà đầu tư chiến lược với quy mô 23,3 triệu cổ phiếu, giá tối thiểu 50.000 đồng/cổ phiếu. Đây là phương án đã được đại hội đồng cổ đông thông qua ba lần kể từ năm 2023 nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai lần nào, nên không thể xem đây là nguồn vốn chắc chắn sẽ có trong ngắn hạn. Nếu đợt phát hành này tiếp tục bị trì hoãn, công ty sẽ đối mặt với khoảng thiếu hụt vốn đầu tư ước tính khoảng 100 tỷ đồng cho giai đoạn tới và nhiều khả năng phải tăng vay nợ để bù đắp, thay vì sử dụng vốn chủ sở hữu như kế hoạch ban đầu.
Về khả năng sinh lời, ROE trượt bốn quý cải thiện lên 17,2% từ 16,4% của quý trước, nhưng mức cải thiện này chủ yếu đến từ việc vốn chủ sở hữu bình quân giảm xuống do khoản trích lập cổ tức, chứ không phải từ lợi nhuận tăng trưởng. Lợi nhuận sau thuế trượt bốn quý hiện đi ngang quanh 290 tỷ đồng và vẫn thấp hơn mức 307 tỷ đồng của cùng kỳ năm ngoái, cho thấy động lực tăng trưởng lợi nhuận thực chất chưa quay trở lại rõ rệt.
So với kế hoạch cả năm mà đại hội đồng cổ đông đã thông qua, gồm tổng doanh thu 2.090 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 375 tỷ đồng, công ty đã thực hiện được 54,2% chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế sau nửa năm. Tiến độ này có cơ sở hợp lý vì quý 4 thường là cao điểm mùa đấu thầu ETC, đồng thời nền so sánh của nửa cuối năm 2025 khá thấp khi biên lợi nhuận gộp giai đoạn đó từng rơi về 42,6% rồi 44,4%. Tuy vậy, đà hồi phục biên lợi nhuận gộp trong nửa cuối năm 2026 nhiều khả năng chỉ đi ngang quanh vùng hiện tại chứ chưa hàm ý cải thiện thêm, và nếu cạnh tranh giá ở kênh đấu thầu ETC quay trở lại như giai đoạn cuối năm 2025, biên lợi nhuận gộp hoàn toàn có thể chịu áp lực giảm trở lại, khi đó kỷ luật kiểm soát chi phí bán hàng sẽ là yếu tố quyết định khả năng giữ được lợi nhuận.
Nhìn chung, kết quả quý 2/2026 của Bidiphar phản ánh một doanh nghiệp đang trong giai đoạn chuyển tiếp: lợi nhuận cốt lõi chưa tăng trưởng rõ rệt so với cùng kỳ, biên lợi nhuận gộp đang trên đà hồi phục nhưng chưa về lại nền cao trước đó, trong khi công ty đồng thời phải cân đối giữa nhu cầu vốn cho chu kỳ đầu tư hai nhà máy mới với dòng tiền kinh doanh đang co hẹp do áp lực capex. Ba yếu tố nhà đầu tư cần tiếp tục theo dõi trong các quý tới là mức độ cạnh tranh giá tại kênh đấu thầu ETC và khả năng giữ biên lợi nhuận gộp không rơi trở lại vùng thấp của nửa cuối năm 2025, tiến độ triển khai thực tế của hai nhà máy mới cùng lộ trình đạt chuẩn GMP-EU vốn quyết định vị thế đấu thầu thuốc nhóm cao trong tương lai, và diễn biến của phương án phát hành cổ phiếu riêng lẻ vốn đã bị trì hoãn nhiều lần, bởi đây là biến số then chốt quyết định công ty có đủ nguồn vốn chủ sở hữu để hoàn tất chu kỳ đầu tư hiện tại hay phải dựa nhiều hơn vào vay nợ.
Mã chứng khoán liên quan bài viết
Theo dõi người đăng bài
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
