menu
Quyết định 1743: Vì sao mặt bằng lãi suất huy động sẽ không giảm mà chỉ giãn rộng
Hà Minh
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Quyết định 1743: Vì sao mặt bằng lãi suất huy động sẽ không giảm mà chỉ giãn rộng

Một quyết định hành chính dài chưa tới hai trang, ban hành ngày 30/7/2026 và có hiệu lực chỉ sau đó hai ngày, vừa làm thay đổi cấu trúc cạnh tranh của toàn bộ thị trường huy động vốn Việt Nam trong hai năm tới. Quyết định số 1743/QĐ-NHNN không sửa một điều khoản nào về lãi suất điều hành, không thay đổi hạn mức tín dụng, cũng không bơm thêm một đồng nào vào hệ thống.

Nó chỉ làm một việc duy nhất: sửa lại định nghĩa của mẫu số trong công thức tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Chính vì vậy mà tác động của nó bị phần lớn thị trường đọc sai - được diễn giải như một tín hiệu hạ nhiệt lãi suất, trong khi cơ chế truyền dẫn thực tế lại dẫn tới điều ngược lại đối với phần lớn người gửi tiền.

188,015 tỷ đồng nguồn vốn huy động vừa xuất hiện trên bảng cân đối của hệ thống ngân hàng Việt Nam mà không một đồng tiền gửi mới nào chảy vào. Thông tư 25/2026/TT-NHNN quy định khấu trừ 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, đồng nghĩa chỉ 20% được tính vào tổng tiền gửi; Quyết định 1743 hạ tỷ lệ khấu trừ xuống 50%, tức nâng phần được tính lên 50%. Đến cuối tháng 3/2026, tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng đạt 626,716 tỷ đồng, trong đó nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước nắm 624,167 tỷ đồng, tương đương 99.59%. Ba mươi điểm phần trăm nhân với số dư đó tạo ra khoảng 188,000 tỷ đồng mẫu số LDR mới. Với trần LDR 85%, con số này tương đương gần 160,000 tỷ đồng dư địa cho vay được tạo ra từ hư không - xấp xỉ ba tuần tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống theo nhịp hiện tại, khi dư nợ đến giữa tháng 7/2026 đã đạt gần 20.1 triệu tỷ đồng, tăng 7.86% so với cuối năm trước.

Ngân hàng Nhà nước không bơm thanh khoản

Không một đồng nào được bơm ra, tổng tài sản hệ thống không đổi, số dư tiền gửi thực tế của Kho bạc Nhà nước không đổi và ỳ hạn của nguồn vốn đó cũng không đổi. Thứ duy nhất thay đổi là định nghĩa của mẫu số D trong công thức L/D. Đây là một can thiệp kế toán quy định (regulatory accounting), không phải một can thiệp tiền tệ.

Cần thấy tại sao ràng buộc này lại cấp bách đến mức phải xử lý bằng một văn bản dưới luật ban hành chỉ năm tuần sau khi Thông tư 25 vừa có hiệu lực. Tại thời điểm 31/3/2026, tỷ lệ LDR của Vietcombank là 84.54%, VietinBank 83.48%, Agribank 83.28% và BIDV 82.94% - toàn bộ nhóm Big 4 đều tiến sát trần 85%. Chứng khoán Rồng Việt trước đó ước tính rằng việc đưa 20% tiền gửi Kho bạc vào công thức chỉ giảm áp lực khoảng 1 – 1.5 điểm phần trăm cho nhóm quốc doanh, mức hỗ trợ chưa đủ để tạo thay đổi đáng kể. Nói cách khác, liều thuốc của tháng 6 đã không còn kịp phát huy tác dụng, và liều của tháng 8 lớn gấp rưỡi.

Chi tiết đáng chú ý nhất không nằm ở con số 50%, mà nằm ở khung thời gian. Quyết định có hiệu lực từ 1/8/2026 đến hết 31/7/2028, áp dụng thống nhất một tỷ lệ trong toàn bộ khoảng thời gian đó. Một cam kết hai năm cứng, thay vì để ngỏ điều chỉnh theo từng quý, là lời thừa nhận chính thức rằng khoảng chênh giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng huy động không phải hiện tượng mùa vụ, mà là đặc tính cấu trúc của cả chu kỳ tài trợ hạ tầng 2026 – 2028. Ghép với việc Thông tư 25 nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%, gói chính sách này được thiết kế để đẩy toàn bộ chương trình đầu tư công lên bảng cân đối kế toán của bốn ngân hàng quốc doanh.

Đường cong FTP là đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa lãi suất chuyển vốn nội bộ và kỳ hạn, là cơ sở để áp giá FTP cho từng giao dịch tài sản và nguồn vốn. Đường cong được xây dựng từ lãi suất liên ngân hàng, lãi suất huy động thực tế và các điều chỉnh hành vi theo kỳ hạn.

Cơ chế truyền dẫn xuống biểu lãi suất niêm yết đi qua đường cong FTP nội bộ chứ không đi qua thông cáo báo chí. LDR là ràng buộc cứng ở cấp hội sở, và khối nguồn vốn phản ứng bằng cách hạ giá mua vốn kỳ hạn 6 – 12 tháng trên đường cong FTP ngay khi dư địa xuất hiện, thường trong vòng vài tuần. Với người giữ tài sản lớn, đây là chỉ báo sớm đáng tin cậy hơn: khi chuyên viên quan hệ khách hàng ngừng gọi điện chào lãi suất thỏa thuận và bắt đầu chào sản phẩm đầu tư, ràng buộc bảng cân đối của định chế đó vừa được nới.

Người định giá biên không phải Big 4: độ phân tán sẽ giãn ra thay vì mặt bằng đi xuống

Người định giá biên (marginal price setter) của lãi suất huy động VND hiện nay không phải nhóm Big 4, mà là nhóm ngân hàng cổ phần đang phải mua thanh khoản bằng giá thị trường.

Nhóm Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank duy trì lãi suất 2.6 – 2.9%/năm cho kỳ hạn ngắn, trong khi ACB đã nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 7.6%/năm và 12 tháng lên 7.8%/năm; các khoản tiền gửi lớn theo thỏa thuận trên thị trường có thể đạt 8.5 – 9%/năm. Bình quân huy động trực tuyến của 36 ngân hàng đến ngày 23/07 ở mức 6.16%/năm kỳ hạn 6 tháng và 6.39%/năm kỳ hạn 12 tháng. Toàn bộ 188,000 tỷ đồng dư địa mới rơi vào nhóm đang trả 2.6 – 2.9%, và gần như không một đồng nào rơi vào nhóm đang trả 7.6 – 9%.

Quyết định 1743: Vì sao mặt bằng lãi suất huy động sẽ không giảm mà chỉ giãn rộng

Nguồn: Số liệu NHNN, báo cáo tài chính quý I/2026 và biểu lãi suất niêm yết tháng 7/2026. Cột dư địa LDR là ước tính của người viết, trên giả định quy mô tổng tiền gửi tính LDR của nhóm Big 4 vào khoảng 7.5 – 8 triệu tỷ VND.

Hệ quả số học là bình quân toàn hệ thống có thể đi ngang hoặc nhích xuống 10 – 20 điểm cơ bản vào quý 4 - một con số sẽ được ghi nhận như thành công điều hành - trong khi khoảng cách giữa nhóm rẻ nhất và nhóm đắt nhất, hiện đã trên 280 điểm cơ bản ở kỳ hạn 6 tháng, tiếp tục giãn rộng. Với người gửi tiền quy mô lớn, toàn bộ phần lợi tức vượt trội nằm ở lựa chọn định chế, không nằm ở lựa chọn kỳ hạn.

Đường cong lãi suất liên ngân hàng đang xác nhận chẩn đoán này. Lãi suất qua đêm phiên 28/7 ở mức 2.2%/năm — thấp nhất kể từ đầu năm 2026 — trong khi kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần và 1 tháng lần lượt là 4.55%, 5.3% và 6.9%/năm. Chênh lệch 470 điểm cơ bản giữa qua đêm và một tháng không phải dấu hiệu của thiếu hụt thanh khoản; đó là dấu hiệu của thiếu hụt vốn có kỳ hạn. Quyết định 1743 đưa thêm một nguồn vốn ngắn hạn, có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào, vào một tỷ lệ an toàn vốn được thiết kế để đo lường chính tính bền vững của nguồn vốn.

Rủi ro thật nằm ở quý 4, không nằm ở tháng 8

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước là tiền ngân sách đang chờ giải ngân. Cũng chính Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 - cơ sở chính sách cho Quyết định 1743, với mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên - lại đặt yêu cầu giải ngân đầu tư công tối đa cho những tháng còn lại của năm. Giải ngân nghĩa là số dư Kho bạc giảm. Mẫu số vừa được cộng thêm 188,000 tỷ đồng sẽ tự động co lại đúng vào quý 4/2026 và quý 1/2027, thời điểm cầu tín dụng đạt đỉnh mùa vụ. Cơ chế hỗ trợ này thuận chu kỳ theo chiều sai: dư địa lớn nhất xuất hiện vào tháng 8, khi hệ thống ít cần nhất, và nhỏ nhất vào quý 4, khi hệ thống cần nhất.

Ngân hàng Nhà nước hiểu rõ điều này và đã chuyển toàn bộ rủi ro sang phía tổ chức tín dụng: các ngân hàng phải bảo đảm khả năng thanh khoản và khả năng chi trả kể cả trong trường hợp Kho bạc Nhà nước thu hồi trước hạn các khoản tiền gửi có kỳ hạn. Một ngân hàng tuân thủ trần 85% chỉ nhờ phần 50% tiền gửi Kho bạc đang mang một trạng thái thiếu hụt thanh khoản tiềm ẩn (contingent liquidity short) không hiện lên trên bất kỳ chỉ số công bố nào.

Hai hệ quả lan sang danh mục tài sản. Thứ nhất, nhóm Big 4 khi có dư địa sẽ ưu tiên giải ngân tín dụng thay vì mua trái phiếu Chính phủ - lực cầu ở đầu dài của đường cong yếu đi đúng lúc khối lượng phát hành phục vụ hạ tầng tăng tốc, đẩy lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dài lên và định giá lại mọi cấu phần duration VND trong danh mục. Thứ hai, trần 40% vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cộng với dư địa LDR tập trung đúng vào bốn định chế chi phối tín dụng dự án và tín dụng mua nhà. Nguồn vốn rẻ cho cả phía chủ đầu tư lẫn phía người mua tại Hà Nội được mở van trong nửa cuối 2026 - trước khi chính van đó hẹp lại vào quý 1/2027.

Kết luận và nhận định chiến lược

Quyết định 1743 là một biện pháp kỹ thuật mua thời gian, không phải một tín hiệu đảo chiều chính sách tiền tệ. Nó không tạo ra thanh khoản mới, không cải thiện chất lượng nguồn vốn của hệ thống, và không thay đổi phương trình cơ bản rằng tín dụng đang tăng nhanh hơn huy động trong một môi trường lãi suất thực bị bào mòn. Điều nó thực sự làm là chuyển gánh nặng định giá thanh khoản từ nhóm bốn ngân hàng quốc doanh sang toàn bộ phần còn lại của hệ thống.

Kỳ vọng phổ biến rằng mặt bằng lãi suất huy động sẽ hạ nhiệt sau ngày 1/8 là một suy luận đúng về nhóm Big 4 nhưng chưa đúng về thị trường. Mặt bằng bình quân có thể đi ngang; độ phân tán chắc chắn giãn rộng. Đây không phải môi trường để kéo dài kỳ hạn tại nơi an toàn nhất, mà là môi trường để định giá lại rủi ro tín nhiệm của từng định chế.

Đối với người nắm giữ tài sản lớn bằng VND, cửa sổ chính sách hai năm này tạo ra ba hàm ý hành động cụ thể trong giai đoạn từ nay đến quý 1/2027.

Thứ nhất, khóa kỳ hạn 12 tháng tại nhóm ngân hàng cổ phần với mức lãi suất thỏa thuận 7.8 – 9%/năm ngay trong tháng 8 – 9/2026. Đây là giai đoạn nhóm Big 4 chính thức rút khỏi cuộc đua huy động nhờ dư địa LDR mới, trong khi nhóm cổ phần chưa hề được giảm áp lực nào. Chênh lệch giữa hai nhóm đang ở điểm rộng nhất của chu kỳ và sẽ thu hẹp khi số dư Kho bạc bị rút về.

Thứ hai, rải lịch đáo hạn tập trung vào quý 1/2027 thay vì kéo dài đồng loạt sang 2028. Khi tiến độ giải ngân đầu tư công tăng tốc và Kho bạc thu hồi tiền gửi, phần mẫu số vay mượn từ Quyết định 1743 sẽ biến mất khỏi bảng cân đối của nhóm Big 4, buộc chính nhóm này quay lại thị trường huy động. Đó là đợt tái định giá thứ hai, và danh mục cần có dòng tiền tự do sẵn sàng tại thời điểm đó.

Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo
Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay