Thử đoán đường đi của tín dụng năm 2026
Đánh giá cao tính minh bạch trong việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng từ đầu năm cho các ngân hàng thương mại, ThS. Lê Hoài Ân, CFA, giảng viên trường Đại học Ngân hàng TPHCM, nhận định mấu chốt nhất vẫn là dữ liệu phải phản ánh đúng bản chất dòng vốn; giám sát phải đủ sát để phát hiện sớm sự lệch chuẩn và chế tài phải đủ rõ để kỷ luật thực thi có trọng lượng.
Về mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% trong năm 2026, theo vị chuyên gia, đây là mức phù hợp nhưng bài toán khó hơn nằm ở “chất lượng”.
Minh bạch, đúng hướng
KTSG: Thưa ông, công văn mới đây của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thể hiện tinh thần minh bạch và tăng quyền chủ động cho các tổ chức tín dụng (TCTD) với công thức và các yêu cầu cho tăng trưởng tín dụng được đưa ra từ đầu năm. Ông bình luận như thế nào về động thái này, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang định hướng bỏ room tín dụng?
Tôi đánh giá đây là bước đi đúng vì nó giảm đáng kể tâm lý chờ đợi và suy đoán. Khi tiêu chí và cách tính được công bố sớm, ngân hàng có điều kiện quản trị tăng trưởng, thanh khoản và cơ cấu tài sản nợ một cách có kế hoạch, thay vì chạy theo điều chỉnh trong năm. Điều này cũng có lợi cho điều hành chung, vì thị trường bớt biến động do kỳ vọng chính sách.
Còn về định hướng giảm dần vai trò của hạn mức tín dụng, tôi cho rằng việc minh bạch hóa là điều kiện cần, nhưng không đồng nghĩa có thể bỏ ngay. Muốn thay đổi cơ chế một cách căn cơ thì phải có nền giám sát đủ mạnh, dữ liệu đủ tốt, thị trường vốn đủ sâu để san sẻ vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Nói cách khác, văn bản lần này là bước tiến quan trọng, nhưng vẫn nằm trong lộ trình chuyển đổi.
- Tôi cho rằng nhóm quy định này đi đúng vào một tồn tại rất thực tế của những năm gần đây, đặc biệt là năm 2025. Đó là hiện tượng một số ngân hàng tăng trưởng tín dụng quá nhanh ngay từ đầu năm theo kế hoạch nội bộ. Khi tăng nhanh ở giai đoạn đầu, không gian điều hành phần còn lại của năm sẽ bị thu hẹp. Đến lúc nền kinh tế cần thêm lực đẩy tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế theo định hướng của Chính phủ, chúng ta lại rơi vào tình thế phải nới thêm, khiến nhu cầu xin tăng chỉ tiêu trở nên lớn và tạo ra dư thừa trong mức tăng trưởng tín dụng cần thiết.
Chính vì vậy, quy định giới hạn nhịp độ trong ba tháng đầu năm không đơn thuần là một con số kỹ thuật. Nó hướng tới mục tiêu làm cho tăng trưởng tín dụng đi theo nhịp của nền kinh tế và năng lực quản trị của từng ngân hàng, tránh tình trạng dồn tăng trưởng sớm rồi thiếu dư địa khi cần hỗ trợ.
Về công thức gắn với điểm xếp hạng và cơ chế trừ phần vượt chỉ tiêu năm trước, điểm quan trọng là đưa tín dụng về đúng tinh thần thưởng/phạt: ngân hàng muốn tăng cao thì phải chứng minh năng lực, tuân thủ và chất lượng. Cách làm này làm giảm động cơ tăng bằng mọi giá, đồng thời hạn chế hiện tượng tận dụng khoảng trống kỹ thuật để làm đẹp số liệu, nhất là khi có quy định loại trừ các khoản bán dư nợ nhưng chưa thu tiền.
Nhưng nói cho cùng, mấu chốt nhất vẫn là ba điều: dữ liệu phải phản ánh đúng bản chất dòng vốn; giám sát phải đủ sát để phát hiện sớm sự lệch chuẩn và chế tài phải đủ rõ để kỷ luật thực thi có trọng lượng. Nếu ba điều này làm tốt, công thức mới sẽ phát huy tác dụng; nếu không, rủi ro lách qua hình thức khác vẫn hiện hữu.
Các điều kiện “đủ”
Nhìn vào bức tranh chung, dù đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 15%. Nghĩa là tăng trưởng tín dụng chất lượng, vốn đi vào nền sản xuất thực là nhiệm vụ phải đạt được trong năm 2026. Thưa ông, điều này liệu có khả thi? Và muốn điều này khả thi, bên cạnh câu chuyện điều hành bằng hạn mức tín dụng, chúng ta cần thêm các điều kiện “đủ” nào?
- Mức định hướng khoảng 15% là phù hợp, thể hiện chủ trương hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hai con số và cũng không để tín dụng tăng trưởng quá mức, gây áp lực lên lạm phát và rủi ro hệ thống. Các TCTD sẽ cần phải nắn dòng vốn về các khu vực sản xuất thực dưới sự giám sát chặt chẽ của NHNN, để đảm bảo mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và chất lượng tín dụng phải song hành.
Về mặt số lượng, mục tiêu có thể đạt nếu mặt bằng lãi suất, thanh khoản hệ thống và nhu cầu vốn của khu vực sản xuất kinh doanh thuận lợi. Tuy nhiên, bài toán khó hơn nằm ở hai chữ chất lượng. Muốn dòng vốn đi vào khu vực tạo ra giá trị thực, theo tôi, cần có đồng thời các điều kiện sau.
Thứ nhất là sức hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ vay và trả được nợ khi có đầu ra, có dòng tiền và có triển vọng đơn hàng. Nếu sức mua yếu hoặc môi trường kinh doanh còn nhiều nút thắt, tín dụng dù có sẵn cũng khó chuyển thành tăng trưởng bền vững.
Thứ hai là tính thông suốt của pháp lý và dự án, nhất là các dự án tạo năng lực sản xuất mới và hạ tầng. Khi pháp lý rõ ràng và tiến độ triển khai tốt, ngân hàng có cơ sở giải ngân vào dự án thật, dòng tiền thật. Ngược lại, khi pháp lý trì trệ, tín dụng rất dễ chảy sang nơi có tài sản bảo đảm dễ định giá nhưng rủi ro chu kỳ cao.
Thứ ba là phối hợp chính sách. Chính sách tiền tệ không thể một mình gánh mục tiêu tăng trưởng. Nếu đầu tư công; cải cách thủ tục hành chính; chính sách thuế, phí và môi trường kinh doanh vận hành đồng bộ, hiệu quả của tín dụng sẽ cao hơn và rủi ro tích tụ thấp hơn.
Thứ tư là cơ chế định hướng tín dụng theo ngành và theo rủi ro, nghĩa là tăng khả năng định giá rủi ro đúng, tăng vai trò thông tin tín dụng, và nâng chất lượng thẩm định. Khi ngân hàng cho vay dựa trên dòng tiền, quản trị và hiệu quả dự án thay vì dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm, dòng vốn sẽ tự nhiên dịch chuyển về khu vực sản xuất.
Thứ năm là phát triển thị trường vốn để san sẻ áp lực vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng. Khi doanh nghiệp có thêm kênh huy động dài hạn minh bạch, ngân hàng sẽ tập trung tốt hơn vào chức năng tín dụng ngắn và trung hạn, giảm lệch pha kỳ hạn và giảm rủi ro hệ thống.
Tóm lại, mục tiêu hoàn toàn có thể đạt, nhưng đạt đúng chất thì cần bộ điều kiện đồng bộ, không thể chỉ trông vào một công cụ điều hành.
Lành mạnh hóa tín dụng bất động sản
Một điểm được chú ý trong văn bản vừa rồi là NHNN giới hạn mức tăng trưởng dư nợ tín dụng bất động sản ở dưới mức tăng trưởng tín dụng chung của TCTD so với năm 2025. Quy định này sẽ tác động đến dòng vốn vào bất động sản như thế nào? Xin ông phân tích cụ thể.
- Tôi hiểu quy định này theo đúng tinh thần điều hành: không chặn dòng vốn vào khu vực bất động sản, nhưng kiểm soát để bất động sản không trở thành động lực chính kéo tăng trưởng tín dụng của một số ngân hàng, từ đó khiến hoạt động sản xuất thực thì vẫn khát vốn nhưng khu vực tiềm ẩn đầu cơ lại dồi dào. Tác động lớn nhất là ngân hàng phải tái cân đối danh mục, nâng tỷ trọng cho vay khu vực sản xuất kinh doanh, và lựa chọn kỹ hơn trong số các dự án bất động sản.
Dòng vốn sẽ phân hóa mạnh. Dự án có pháp lý rõ, tiến độ tốt, phù hợp nhu cầu ở thật và có khả năng tạo dòng tiền bán hàng ổn định vẫn có cơ hội tiếp cận tín dụng. Ngược lại, nhóm phụ thuộc nhiều vào kỳ vọng tăng giá, thanh khoản thứ cấp yếu, hoặc triển khai pháp lý chưa chắc chắn sẽ khó hơn vì ngân hàng phải ưu tiên dư địa tín dụng cho các khoản vay có dòng tiền và rủi ro thấp hơn.
Điều cần lưu ý là nếu phân loại mục đích vốn không chặt, có thể xuất hiện hiện tượng chuyển dòng qua các sản phẩm tín dụng mang tên gọi khác. Vì vậy, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc nhiều vào kỷ luật phân loại và giám sát.
Đối với mục tiêu xử lý triệt để sở hữu chéo, lành mạnh hóa hệ thống TCTD, việc kiểm soát chặt chẽ hơn hạn mức tín dụng vào bất động sản của từng ngân hàng thương mại có tác động như thế nào? Chúng ta có nên lường trước cả những rủi ro phát sinh, nếu quy định này được thực hiện triệt để và nghiêm túc không, thưa ông?
- Tác động tích cực là rõ, vì trong thực tế rủi ro sở hữu chéo và lợi ích nhóm thường gắn với rủi ro tập trung tín dụng vào nhóm khách hàng liên quan. Bất động sản lại là lĩnh vực dễ hấp thụ vốn lớn và thường tạo cảm giác an tâm khi cho vay vì luôn có tài sản bảo đảm, nhưng rủi ro chu kỳ cao. Khi hạn mức tín dụng bất động sản bị quản lý chặt hơn ở từng ngân hàng, không gian để tập trung vốn vào các quan hệ liên quan sẽ bị thu hẹp, buộc ngân hàng phải nâng chuẩn thẩm định và minh bạch hơn trong quản trị rủi ro.
Tuy nhiên, nếu thực thi nghiêm và đồng loạt, cần lường trước các rủi ro chuyển tiếp. Một là cú sốc cục bộ ở những ngân hàng có mức độ phụ thuộc cao vào bất động sản, vì việc co danh mục quá nhanh có thể làm tăng nợ xấu khi dự án đứt dòng tiền. Hai là hiện tượng chuyển dịch sang kênh phi ngân hàng nếu nhu cầu vốn vẫn lớn nhưng kênh hợp pháp, minh bạch chưa đáp ứng kịp. Ba là nguy cơ ảnh hưởng lan tỏa tới các dự án phục vụ nhu cầu thật nếu không có cơ chế phân loại rõ.
Vì vậy, theo tôi, cách tiếp cận đúng là siết mạnh với phân khúc mang tính đầu cơ và rủi ro cao, đồng thời bảo đảm dòng vốn cho phân khúc phục vụ nhu cầu thật, dự án pháp lý rõ và có dòng tiền. Đi cùng với đó là tăng minh bạch sở hữu thực, kiểm soát giao dịch với bên liên quan và nâng kỷ luật công bố thông tin.
Bạn muốn trở thành VIP/PRO trên 24HMONEY?
Bấm vào đây để liên hệ 24HMoney ngay

Bàn tán về thị trường