Tái khởi động đường đua hạt nhân: động lực nào đang thúc đẩy nền kinh tế?
Trong giai đoạn từ năm 2024 đến 2026, chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và an ninh năng lượng của Việt Nam đã trải qua một sự tái định hình mang tính lịch sử. Từ trạng thái tạm dừng vô thời hạn dự án điện hạt nhân Ninh Thuận theo Nghị quyết của Quốc hội năm 2016, hệ thống chính trị Việt Nam đã quyết định "dồn lực" tái khởi động và mở rộng toàn diện hệ sinh thái khoa học công nghệ hạt nhân.
Sự kiện Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vào tháng 9 năm 2024 đã đi đến sự nhất trí cao về việc khôi phục chương trình phát triển điện hạt nhân, tạo tiền đề để Quốc hội khóa XV chính thức thông qua chủ trương này vào tháng 11 năm 2024. Quyết định vĩ mô này được củng cố bằng việc ban hành Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, đánh dấu một "cột mốc pháp lý mới" nhằm mở rộng không gian phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.
Tâm điểm của chiến lược dồn lực này không chỉ dừng lại ở các nhà máy điện thương mại, mà còn tập trung mạnh mẽ vào Dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Công nghệ hạt nhân (CNST) tại thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Việc phối hợp với Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Quốc gia Liên bang Nga (Rosatom) để khảo sát, thiết kế và xây dựng một lò phản ứng nghiên cứu dạng bể mới có công suất 10 MW sử dụng nhiên liệu độ giàu thấp phản ánh một khát vọng vươn tầm công nghệ lõi. Quyết định này không đơn thuần là một giải pháp tình thế nhằm giải bài toán thiếu hụt điện năng, mà là một siêu chiến lược đan xen giữa an ninh quốc gia, định vị lại chuỗi cung ứng toàn cầu về chất bán dẫn, khai thác vật liệu chiến lược, và giải quyết các thách thức y tế công cộng cấp bách. Việc phân tích chuyên sâu các yếu tố nội tại và ngoại cảnh sẽ làm sáng tỏ lý do Nhà nước chọn thời điểm hiện tại để tăng tốc, cũng như những mục tiêu dài hạn ẩn sau quyết định mang tính thời đại này.
I. Phân tích Bối cảnh Đương đại: Tại sao lại là Thời điểm hiện tại?
Quyết định dồn lực phát triển khoa học công nghệ hạt nhân là sự kết tinh của nhiều áp lực vĩ mô mang tính hệ thống. Việc Việt Nam không thể tiếp tục trì hoãn xuất phát từ sự hội tụ của ba cuộc khủng hoảng tiềm tàng: sự giới hạn của hạ tầng năng lượng tái tạo, sự cạn kiệt năng lực của cơ sở hạt nhân dân sự độc nhất, và sự phân mảnh của chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu.
1. Áp lực Chuyển dịch Năng lượng và Giới hạn của Lưới điện Quốc gia
Nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Theo Quy hoạch Điện VIII (điều chỉnh) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, để đáp ứng kịch bản tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030 và 7,5%/năm trong giai đoạn 2031 - 2050, quy mô hệ thống điện quốc gia phải mở rộng với tốc độ chưa từng có.
Trong bối cảnh Việt Nam đã cam kết quốc tế về việc đạt mức phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) vào năm 2050, định hướng phát triển hệ thống điện buộc phải loại bỏ sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Theo quy hoạch, Nhà nước kiên quyết không phát triển thêm các dự án nhiệt điện than sau năm 2030, đồng thời đẩy mạnh tỷ trọng năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện) lên mức 28% - 36% vào năm 2030 và vươn tới ngưỡng 74% - 75% vào năm 2050. Tuy nhiên, sự phụ thuộc quá mức vào điện gió và điện mặt trời mang lại những rủi ro vận hành nghiêm trọng do đặc tính gián đoạn và tính bất định theo thời tiết.
Việc tích hợp một tỷ trọng khổng lồ năng lượng tái tạo đòi hỏi hệ thống điện phải được hỗ trợ bởi các giải pháp lưu trữ đắt đỏ như thủy điện tích năng (dự kiến 20.000 MW vào năm 2050) và pin lưu trữ (gần 96.000 MW vào năm 2050). Dù vậy, hệ thống điện vẫn đối diện với nguy cơ rã lưới nếu thiếu vắng một nguồn điện chạy nền (baseload) ổn định và đủ lớn. Điện hạt nhân, với hệ số dung lượng vận hành thường xuyên đạt trên 90% và đặc tính hoàn toàn không phát thải khí nhà kính trong quá trình vận hành, nổi lên như một phương án kinh tế và kỹ thuật duy nhất đủ khả năng thay thế nhiệt điện than để làm bệ đỡ vững chắc cho an ninh năng lượng. Tổng Bí thư Tô Lâm đã thẳng thắn nhận định rằng các nguồn năng lượng tái tạo tuy có mặt thuận lợi nhưng cũng tiềm ẩn nhiều giới hạn, do đó việc phát triển điện hạt nhân là con đường tất yếu mà các quốc gia phát triển trên thế giới đang thực hiện để đảm bảo đủ điện cho nền kinh tế.
2. Sự Bất cập và Quá tải của Cơ sở Hạ tầng Hạt nhân Hiện hữu
Năng lực nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật hạt nhân của Việt Nam hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Công trình này có một lịch sử hình thành phức tạp, với lớp vỏ ban đầu do Hoa Kỳ xây dựng từ năm 1961 chứa lõi TRIGA Mark II, sau đó bị tháo dỡ lõi nhiên liệu vào năm 1975, và cuối cùng được Liên Xô viện trợ khôi phục, nâng cấp lên công suất danh định 500 kW vào tháng 3 năm 1984. Sau hơn bốn thập kỷ vận hành liên tục, thiết bị này đã tiến rất gần đến giới hạn tuổi thọ công nghệ và kỹ thuật.
Trong lĩnh vực y tế công cộng, sự hữu hạn về công suất của Lò phản ứng Đà Lạt đang tạo ra một điểm nghẽn nghiêm trọng. Hiện tại, lò phản ứng này chỉ sản xuất được khoảng gần mười loại dược chất phóng xạ cơ bản (như 131-I , 32-P, và bình chiết Tc-99m), đáp ứng được khoảng 40% - 60% nhu cầu nội địa. Với số lượng bệnh nhân mắc mới các bệnh lý ung thư tại Việt Nam lên tới khoảng 180.000 người mỗi năm, hiệu suất chữa trị bằng y học bức xạ trong nước hiện chỉ đạt khoảng 40%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 70% của thế giới. Sự thiếu hụt đồng vị phóng xạ sản xuất trong nước buộc các cơ sở y tế phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu đắt đỏ. Đặc thù của các dược chất phóng xạ là chu kỳ bán rã rất ngắn (ví dụ, Tc-99m chỉ có chu kỳ bán rã khoảng 6 giờ), khiến việc hậu cần nhập khẩu qua đường hàng không cực kỳ rủi ro và tốn kém. Do đó, việc xây dựng gấp rút lò phản ứng mới công suất 10 MW (gấp 20 lần công suất hiện tại) tại Đồng Nai không chỉ là nhiệm vụ khoa học mà còn là một cứu cánh sống còn cho hàng vạn bệnh nhân ung thư trên toàn quốc.
3. Điểm nghẽn trong Chuỗi Cung ứng Bán dẫn và Vật liệu chiến lược toàn cầu
Sự cạnh tranh địa chính trị gay gắt giữa các siêu cường đang dẫn đến quá trình tái cấu trúc toàn diện chuỗi cung ứng công nghệ cao. Các tập đoàn đa quốc gia đang ráo riết tìm kiếm các cứ điểm sản xuất mới để đa dạng hóa rủi ro, mang lại cơ hội ngàn năm có một cho Việt Nam. Để không bị mắc kẹt ở các công đoạn gia công đóng gói giá trị thấp, Nhà nước nhận thức rõ sự cần thiết phải làm chủ công nghệ vật liệu cốt lõi, trong đó khoa học hạt nhân đóng vai trò then chốt thông qua hai lĩnh vực: chất bán dẫn và chế biến sâu đất hiếm.
4. Sự Thúc đẩy quyết liệt từ điểm rơi thể chế
Năm 2026 được Bộ Chính trị xác định là năm mang tính bước ngoặt với phương châm "Hành động đột phá, lan tỏa kết quả", chuyển trạng thái của toàn bộ hệ thống từ "khởi động, chạy đà" sang "tăng tốc". Bản Kết luận số 203-KL/TW (tháng 11/2025) đã đặt ra yêu cầu phải hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng kinh tế một cách bài bản và căn cơ, không được bỏ lỡ thời cơ.
Tổng Bí thư Tô Lâm, trong chuyến thăm và làm việc trực tiếp tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và khảo sát thực địa tại Ninh Thuận, đã truyền đạt một thông điệp mang tính mệnh lệnh: "Phải rất chủ động. Không thể chờ mấy năm định hướng, mấy năm khảo sát, mấy năm mặt bằng, mấy năm tìm công nghệ. Thời gian không cho phép như thế khi năm 2045 đã đến nơi". Sự hội tụ của quyết tâm chính trị ở cấp độ cao nhất, kết hợp với hành lang pháp lý vừa được đả thông thông qua Luật Năng lượng nguyên tử sửa đổi, đã tạo ra một bệ phóng hoàn hảo. Nhà nước đã có đủ cơ sở pháp lý và sự đồng thuận xã hội để phê duyệt các khoản ngân sách khổng lồ, dồn lực giải phóng mặt bằng, và tái thiết lập các thỏa thuận hợp tác quốc tế mà không vấp phải các rào cản hành chính kéo dài.
II. Mục đích chiến lược đa tầng của Nhà nước
Thông qua việc dồn lực vào hệ sinh thái khoa học công nghệ hạt nhân, Nhà nước Việt Nam không chỉ nhắm tới việc giải quyết một bài toán đơn lẻ, mà đang triển khai một kiến trúc chiến lược đa tầng. Những mục đích cốt lõi này có sự tương hỗ lẫn nhau, bao trùm từ an ninh năng lượng, nâng cấp công nghiệp, tự chủ y tế, đến định chuẩn quản trị công nghệ.
1. Đảm bảo Tự chủ Năng lượng và Hiện thực hóa cam kết Trung hòa Carbon
Việc đưa điện hạt nhân trở lại quy hoạch không phải là một sự thụt lùi mà là bước tiến tiệm cận với dòng chảy công nghệ của các quốc gia phát triển. Mục đích chiến lược đầu tiên là thiết lập một nền tảng năng lượng chạy nền độc lập, giảm thiểu rủi ro khi phải phụ thuộc quá lớn vào nguồn than nhập khẩu hay khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) vốn có giá cả biến động khó lường do địa chính trị toàn cầu.
Theo Quyết định số 438/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử, Nhà nước đặt mục tiêu đến năm 2050, điện hạt nhân sẽ chiếm từ 6% - 8% tổng sản lượng điện quốc gia. Lộ trình cụ thể phấn đấu đến năm 2035 sẽ hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành an toàn hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2. Song hành cùng các lò phản ứng công suất lớn thế hệ mới, Nhà nước còn thúc đẩy nghiên cứu và triển khai ít nhất một dự án ứng dụng công nghệ lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR), và xa hơn là làm chủ công nghệ lò phản ứng sử dụng nhiên liệu muối nóng chảy (MSR) hoặc nhiên liệu Thorium. Sự đa dạng hóa cấu trúc công nghệ này sẽ cung cấp một lượng điện năng phát thải ròng bằng "0" khổng lồ, đáp ứng cơn khát năng lượng của các khu công nghiệp công nghệ cao mà không vi phạm các hàng rào thuế carbon quốc tế, qua đó duy trì năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.
2. Định vị Việt Nam bứt phá lên tuyến đầu của Chuỗi cung ứng Vật liệu tiên tiến
Việc xây dựng Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Hạt nhân tại Đồng Nai với cấu phần chính là lò phản ứng 10 MW mang một sứ mệnh công nghiệp to lớn. Mục đích của Nhà nước là thông qua trung tâm này, Việt Nam sẽ nắm giữ chìa khóa công nghệ của hai lĩnh vực vật liệu có giá trị gia tăng cao nhất hiện nay.
3. Cách mạng hóa Năng lực Y tế Bức xạ và Tự chủ Chăm sóc sức khỏe
Một mục đích mang đậm tính nhân văn và cấp bách của Nhà nước là bảo vệ sinh mệnh và sức khỏe của người dân thông qua việc tiếp cận các kỹ thuật y học hiện đại. Sự ra đời của lò phản ứng 10 MW được kỳ vọng sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong chẩn đoán và điều trị ung thư tại Việt Nam.
Nhà nước đặt mục tiêu đến năm 2035 sẽ đạt trình độ y học bức xạ tiên tiến nhất khối ASEAN. Cụ thể, Chiến lược phát triển đã lượng hóa mục tiêu trang bị cho hệ thống y tế quốc gia với mật độ: 20 máy chụp cắt lớp (CT), 10 máy cộng hưởng từ (MRI), 1 máy xạ hình, và từ 1 đến 2 máy xạ trị gia tốc tuyến tính trên mỗi một triệu dân, cùng với mục tiêu đạt tỷ lệ 100% hệ thống X-quang kỹ thuật số. Lò phản ứng mới sẽ nâng công suất sản xuất dược chất phóng xạ lên gấp 5 - 7 lần, không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của hệ thống y tế trong nước mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu sang các quốc gia lân cận. Sự tự chủ này sẽ làm giảm đáng kể chi phí điều trị cho bệnh nhân, loại bỏ sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng hàng không quốc tế đối với các đồng vị có chu kỳ bán rã ngắn, và cho phép các nhà khoa học y khoa Việt Nam phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới (như các đồng vị phát tia alpha) nhắm trúng đích tế bào ung thư.
4. Kiến tạo Năng lực Nghiên cứu Nội sinh và Đảo ngược Dòng chảy chất xám
Phát triển công nghệ hạt nhân là một quá trình không thể diễn ra thông qua việc mua sắm đơn thuần; nó đòi hỏi một nền tảng trí tuệ hàn lâm vững chắc. Mục đích của Nhà nước là sử dụng siêu dự án này như một đòn bẩy để nâng cấp toàn diện hệ thống giáo dục đại học và viện nghiên cứu, biến Việt Nam thành trung tâm đào tạo nhân lực hạt nhân của khu vực Đông Nam Á.
Nhà nước đã giao chỉ tiêu tuyển sinh và cấp kinh phí đào tạo chuyên sâu cho 11 cơ sở đào tạo nguồn nhân lực trọng điểm, trong đó có Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Khoa học tự nhiên thuộc hai Đại học Quốc gia, và Đại học Đà Lạt. Đi kèm với đó là các cơ chế đãi ngộ được mô tả là "chưa từng có tiền lệ". Một hệ thống chính sách ưu đãi tài chính khổng lồ đã được kích hoạt, điển hình như chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc kéo dài tới 10 năm với mức rót vốn lên tới 3 tỷ đồng cho mỗi cá nhân. Ngân sách nhà nước cũng đã bố trí nguồn kinh phí hơn 132,4 tỷ đồng ngay trong năm 2026 để khởi động các đề án nghiên cứu.
Bên cạnh nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu đang được đầu tư bài bản với kế hoạch hình thành 2 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia (chuyên trách về công nghệ điện hạt nhân và công nghệ đất hiếm, urani, titan), cùng với 3 đến 5 phòng thí nghiệm tiên tiến và từ 4 đến 5 nhóm nghiên cứu mạnh. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng này nhằm phục vụ mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa 30% tổng mức đầu tư trong các dự án điện hạt nhân, tiến tới khả năng tự chủ thiết kế, chế tạo một số thiết bị và vật liệu, biến thế hệ kỹ sư trẻ Việt Nam từ những người vận hành thụ động thành những chuyên gia làm chủ công nghệ lõi.
5. Khẳng định Năng lực Quản trị Rủi ro và Nâng cao Vị thế Địa Chính trị
Công nghệ hạt nhân là lĩnh vực đặc thù đòi hỏi sự minh bạch tuyệt đối và khả năng quản trị rủi ro ở cấp độ cao nhất. Chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh nguyên tắc cốt tử: "Tuyệt đối không đánh đổi an toàn lấy tiến độ hay quy mô". Mục đích của Nhà nước khi dồn lực vào lĩnh vực khắt khe này là thiết lập một chuẩn mực mới về năng lực quản lý nhà nước.
Chính phủ đang tái cấu trúc mô hình hoạt động của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, tách bạch rõ ràng chức năng quản lý nhà nước với chức năng nghiên cứu, tiến tới hình thành Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật quốc gia đóng vai trò như một "bộ não kỹ thuật độc lập". Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia sẽ được số hóa, kết nối dữ liệu thời gian thực và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để minh bạch hóa thông tin, từ đó củng cố niềm tin vững chắc trong xã hội.
Ở bình diện quốc tế, việc xây dựng và vận hành thành công lò phản ứng 10 MW cùng các dự án điện hạt nhân thương mại với sự tuân thủ nghiêm ngặt các hiệp ước quốc tế và sự giám sát của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) sẽ nâng cao đáng kể uy tín của Việt Nam. Trong khi hợp tác với Liên bang Nga thông qua Tập đoàn Rosatom để triển khai lò phản ứng nghiên cứu, Việt Nam vẫn duy trì tư thế ngoại giao cân bằng, đa phương hóa các đối tác chuyển giao công nghệ năng lượng tương lai. Điều này biến Việt Nam thành một đối tác công nghệ cao đáng tin cậy, an toàn và ổn định trong mắt cộng đồng quốc tế.
III. Hệ quả lan tỏa và Tác động Vĩ mô Dài hạn
Từ những phân tích sâu sắc về mục đích của Nhà nước, có thể rút ra những nhận định mang tính hệ quả về tác động dài hạn của chiến lược này đối với nền kinh tế và xã hội Việt Nam.
Trước hết, việc nâng chuẩn kỹ thuật lên cấp độ hạt nhân sẽ tạo ra hiệu ứng "mỏ neo công nghệ". Các doanh nghiệp cơ khí, xây dựng và vật liệu nội địa muốn tham gia vào chuỗi cung ứng phụ trợ của nhà máy điện hạt nhân hoặc Trung tâm CNST sẽ buộc phải nâng cấp quy trình quản lý chất lượng để đạt các chứng chỉ quốc tế khắt khe nhất (như ASME cấp hạt nhân). Khi đã đạt được ngưỡng tiêu chuẩn này, toàn bộ nền tảng công nghiệp cơ khí của Việt Nam sẽ mặc nhiên đủ năng lực để tham gia vào các ngành công nghiệp tỷ đô khác như hàng không vũ trụ, đóng tàu biển sâu hay thiết bị lọc hóa dầu.
Thứ hai, sự thành công của dự án khoa học công nghệ hạt nhân sẽ là một bảo chứng mạnh mẽ cho năng lực quản lý vĩ mô của bộ máy Nhà nước. Các dự án công nghệ rủi ro cao trước đây thường gặp khó khăn trong việc thuyết phục công luận. Tuy nhiên, việc thực thi minh bạch, chia sẻ dữ liệu quan trắc phóng xạ theo thời gian thực và áp dụng cơ chế đánh giá độc lập sẽ thiết lập một mô hình quản trị công hiện đại, tạo lập nền tảng văn hóa an toàn và sự đồng thuận xã hội vững chắc cho mọi siêu dự án hạ tầng quốc gia trong tương lai.
IV. Kết luận
Quyết định dồn lực triển khai dự án khoa học công nghệ hạt nhân trong thời điểm hiện tại của Nhà nước Việt Nam là một bước chuyển mình mang tầm vóc lịch sử, phản ánh tư duy chiến lược vượt thời đại của giới lãnh đạo. Bị thúc đẩy bởi sức ép giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt năng lượng chạy nền sạch để đạt mục tiêu Net Zero, cùng với sự quá tải của hạ tầng y tế bức xạ và sự đứt gãy của chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu, Việt Nam đã nhận ra rằng không thể tiếp tục đứng ngoài cuộc đua công nghệ hạt nhân.
Việc đầu tư mạnh mẽ vào các dự án điện hạt nhân thương mại tại Ninh Thuận và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai không chỉ phục vụ cho việc cung cấp điện năng hay sản xuất dược chất phóng xạ cứu sống bệnh nhân. Ở một lăng kính rộng lớn hơn, đó là tuyên ngôn của Nhà nước về mục tiêu nắm giữ công nghệ lõi, tự chủ vật liệu bán dẫn và đất hiếm tinh khiết, đồng thời xây dựng một đội ngũ trí thức nội sinh hùng mạnh. Khoa học hạt nhân chính là bệ phóng công nghệ cao, đóng vai trò như một đòn bẩy vĩ mô để tái thiết lập nền tảng công nghiệp cơ khí, nâng chuẩn quản trị quốc gia và định vị vị thế vững chắc của Việt Nam trên bản đồ địa chính trị và công nghệ thế giới trong kỷ nguyên mới.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay

