FDI chiếm hơn 80% xuất khẩu, nhưng nền kinh tế giữ lại bao nhiêu giá trị?
Khu vực FDI hiện đóng góp hơn 80% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, một thành tựu đáng ghi nhận sau nhiều thập niên hội nhập. Tuy nhiên, như những phân tích gần đây của OECD đã gợi mở rằng quy mô xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ giá trị gia tăng được tạo ra trong nước và mức độ lan tỏa đến doanh nghiệp nội địa.
Nguồn: Internet
Khi hướng tới một giai đoạn tăng trưởng cao hơn, Việt Nam quan tâm không chỉ là xuất khẩu được bao nhiêu, mà còn là nền kinh tế thực sự giữ lại và tích lũy được những gì từ thành công ấy.
Những con số ấn tượng và câu hỏi phía sau
Theo Cơ quan Thống kê Quốc gia, trong chín tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 434.3 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đóng góp 350.41 tỷ USD, tương đương 80,7%. Khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 19.3%, với kim ngạch 83.89 tỷ USD.
Những con số này phản ánh bước chuyển sâu sắc của nền kinh tế Việt Nam. Từ một quốc gia có năng lực xuất khẩu công nghiệp tương đối hạn chế, Việt Nam đã trở thành địa điểm sản xuất quan trọng của nhiều tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt trong các ngành điện tử, máy móc và công nghiệp chế biến. FDI không chỉ mang đến vốn, mà còn tạo việc làm, mở rộng thị trường và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Tuy nhiên, khi khu vực FDI đã chiếm hơn bốn phần năm kim ngạch xuất khẩu, thì câu hỏi chính sách cũng cần thay đổi. Thay vì chỉ quan tâm xuất khẩu tăng thêm bao nhiêu, có lẽ đã đến lúc chúng ta cần chú ý nhiều hơn đến phần giá trị được tạo ra tại Việt Nam, thu nhập thuộc về các chủ thể trong nền kinh tế và những năng lực sản xuất được tích lũy sau mỗi chu kỳ đầu tư.
Đây không phải sự phủ nhận thành tựu FDI, mà là bước tiếp theo trong việc đánh giá chất lượng hội nhập.
Xuất khẩu 100 USD, Việt Nam tạo ra bao nhiêu?
Trong thống kê thương mại truyền thống, một sản phẩm xuất khẩu trị giá 100 USD được ghi nhận đầy đủ vào kim ngạch xuất khẩu. Nhưng nếu sản phẩm sử dụng nhiều linh kiện, nguyên liệu và dịch vụ nhập khẩu, giá trị gia tăng thực sự được tạo ra trong nước sẽ thấp hơn.
Đó là lý do OECD sử dụng phương pháp thương mại theo giá trị gia tăng (Trade in Value Added - TiVA), thay vì chỉ nhìn vào xuất khẩu gộp. Theo Báo cáo Khảo sát kinh tế Việt Nam năm 2025 của OECD, tỷ trọng giá trị gia tăng có nguồn gốc nước ngoài (Foreign Value Added - FVA) trong xuất khẩu gộp của Việt Nam tăng từ 36% năm 2005 lên 48% năm 2020.
Nói cách khác, trong 100 USD xuất khẩu gộp của Việt Nam năm 2020, khoảng 48 USD phản ánh giá trị gia tăng được tạo ra ở nước ngoài, còn khoảng 52 USD là giá trị gia tăng được tạo ra trong nước, theo cách phân rã của OECD. Cũng cần lưu ý tỷ lệ này áp dụng cho tổng xuất khẩu Việt Nam, không phải riêng khu vực FDI và cũng không phải số liệu năm 2026. Vì vậy, không thể lấy tỷ trọng xuất khẩu FDI 80.7% trừ đi tỷ lệ FVA 48% để tính phần giá trị nền kinh tế giữ lại.
OECD cũng nhận xét hàm lượng giá trị gia tăng nước ngoài trong xuất khẩu Việt Nam tương đối cao so với một số nền kinh tế ASEAN như Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Đặc biệt, điện tử và máy móc, những ngành đóng góp lớn vào xuất khẩu, cũng sử dụng nhiều đầu vào có nguồn gốc nước ngoài.
Tuy nhiên, nhập khẩu đầu vào không tự nó là biểu hiện kém hiệu quả. Trong nền kinh tế hiện đại, chuyên môn hóa quốc tế cho phép mỗi quốc gia tập trung vào những công đoạn có lợi thế. Vấn đề đáng quan tâm hơn là theo thời gian, Việt Nam có nâng được phần giá trị gia tăng của mình trong chuỗi sản xuất ấy hay không.
Khi nhà cung cấp trong nước chưa hẳn là doanh nghiệp Việt Nam
Một nhận xét đáng chú ý khác của OECD liên quan đến mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa. Trong báo cáo FDI Qualities Review of Viet Nam 2026, OECD tiếp tục nhấn mạnh những hạn chế đối với khả năng lan tỏa năng suất và công nghệ từ khu vực đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước.
Điều này gợi ra một phân biệt thường ít được chú ý. Doanh nghiệp FDI có thể mua nguyên liệu, linh kiện từ những nhà cung cấp đang hoạt động tại Việt Nam, nhưng các nhà cung cấp ấy cũng có thể là doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Khi đó, hoạt động mua hàng diễn ra trong lãnh thổ Việt Nam, song cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp do người Việt Nam sở hữu chưa chắc tăng tương ứng.
Dĩ nhiên, các nhà cung cấp FDI tại Việt Nam vẫn tạo ra giá trị gia tăng trong nước, trả lương và thực hiện nghĩa vụ thuế. Không nên đồng nhất sở hữu nước ngoài với việc không tạo giá trị cho nền kinh tế. Tuy nhiên, xét từ mục tiêu phát triển doanh nghiệp nội địa có năng lực cạnh tranh, quyền sở hữu, năng lực công nghệ và khả năng tham gia những công đoạn có giá trị cao vẫn là các vấn đề quan trọng.
Một nền kinh tế có thể thu hút nhiều tập đoàn lớn, hình thành những khu công nghiệp hiện đại và đạt kim ngạch xuất khẩu cao. Nhưng nếu doanh nghiệp nội địa chủ yếu cung cấp bao bì, dịch vụ đơn giản hoặc đầu vào có giá trị thấp, khả năng lan tỏa năng suất sẽ khó tương xứng với quy mô đầu tư.
Bởi vậy, chính sách công nghiệp hỗ trợ không nên chỉ hướng đến tăng tỷ lệ nội địa hóa theo nghĩa địa lý. Quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, thời gian giao hàng, quản trị sản xuất, truy xuất nguồn gốc và năng lực nghiên cứu, phát triển.
Giá trị được tạo ra khác với thu nhập được giữ lại
Ngay cả khi xác định được giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam, câu hỏi nền kinh tế giữ lại bao nhiêu vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ.
Theo nguyên tắc tài khoản quốc gia, giá trị gia tăng do doanh nghiệp FDI sản xuất tại Việt Nam vẫn được tính vào GDP Việt Nam. Phần giá trị ấy được phân phối dưới những hình thức như tiền lương, thuế sản xuất và thặng dư hoạt động, trong đó có phần dành để bù đắp hao mòn tài sản cố định.
Nhưng nếu một phần lợi nhuận thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, cần xem xét thêm quan hệ giữa GDP và thu nhập quốc dân (Gross National Income - GNI). Cán cân thanh toán quốc tế (Balance of Payments - BOP) cung cấp góc nhìn bổ sung thông qua thu nhập đầu tư phải trả cho các nhà đầu tư không cư trú.
Ở đây cũng cần tránh một cách hiểu giản đơn khác. Lợi nhuận thuộc về nhà đầu tư nước ngoài không nhất thiết được chuyển toàn bộ ra khỏi Việt Nam bằng tiền mặt. Một phần có thể được giữ lại để tái đầu tư. Lợi nhuận thuộc về nhà đầu tư nước ngoài không nhất thiết được chuyển toàn bộ ra khỏi Việt Nam. Một phần có thể được giữ lại để tái đầu tư. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp FDI có 100 triệu USD lợi nhuận thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, trong đó 60 triệu USD được chia cổ tức và 40 triệu USD được giữ lại, thì theo phương pháp thống kê cán cân thanh toán của IMF, cả 100 triệu USD đều được ghi nhận là thu nhập đầu tư thuộc nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, 40 triệu USD lợi nhuận giữ lại được ghi nhận như một khoản đầu tư trực tiếp bổ sung vào Việt Nam, dù không phát sinh dòng tiền thực tế chuyển ra nước ngoài rồi quay trở lại.
Như vậy, giá trị gia tăng được tạo ra trong nước, thu nhập thuộc về người cư trú và dòng tiền thực sự chuyển ra nước ngoài là ba khái niệm liên quan nhưng không đồng nhất.
Đây cũng là lý do không thể lấy xuất khẩu trừ nhập khẩu của khu vực FDI rồi gọi phần chênh lệch là giá trị Việt Nam giữ lại. Chênh lệch ấy là cán cân thương mại hàng hóa, không phải thước đo giá trị gia tăng hay thu nhập quốc dân.
Từ thu hút vốn đến tích lũy năng lực
Trong quan hệ kinh tế quốc tế, mục tiêu chiến lược quan trọng nhất đối với giai đoạn phát triển tiếp theo của Việt Nam không chỉ là thu hút thêm bao nhiêu vốn FDI mỗi năm, mà còn là những năng lực nào được hình thành và tiếp tục tồn tại trong nền kinh tế. Một dự án có thể đóng góp lớn cho xuất khẩu và việc làm, nhưng giá trị dài hạn sẽ khác nhau tùy theo mức độ đào tạo lao động, chuyển giao tri thức, sử dụng nhà cung cấp nội địa và phát triển hoạt động nghiên cứu, thiết kế hoặc dịch vụ kỹ thuật tại Việt Nam.
Trong cách tiếp cận của OECD, nâng cao chất lượng FDI gắn liền với năng suất, kỹ năng, đổi mới sáng tạo và sự kết nối giữa doanh nghiệp nước ngoài với nền kinh tế sở tại. Đây là những mục tiêu khó đo lường hơn số vốn đăng ký hoặc kim ngạch xuất khẩu, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng duy trì tăng trưởng cao.
Vì vậy, bên cạnh các chỉ tiêu truyền thống, Việt Nam có thể từng bước bổ sung thước đo về giá trị gia tăng trong nước theo ngành xuất khẩu, tỷ trọng mua hàng từ doanh nghiệp Việt Nam, mức độ tham gia của nhà cung cấp nội địa vào các công đoạn công nghệ cao, tiền lương thực và năng suất lao động.
Một hướng khác là đánh giá khả năng chuyển hóa đầu tư thành tài sản sản xuất, công nghệ và nguồn nhân lực. Vốn đăng ký, vốn thực hiện và năng lực sản xuất thực sự hình thành là những đại lượng khác nhau. Tăng trưởng bền vững đòi hỏi phải nhìn thấy mối liên hệ giữa chúng. Điều này không có nghĩa Việt Nam phải tự sản xuất mọi linh kiện hay giảm nhập khẩu bằng mọi giá. Trong chuỗi giá trị toàn cầu, hiệu quả kinh tế đôi khi đến từ việc lựa chọn đúng những công đoạn có khả năng tạo giá trị cao nhất. Điều cần hướng tới là nâng dần năng lực tham gia, thương lượng và sáng tạo của doanh nghiệp trong nước.
Sau nhiều thập niên hội nhập, Việt Nam đã chứng minh được khả năng trở thành một địa điểm sản xuất và xuất khẩu quan trọng của thế giới. Thành tựu ấy tạo nền tảng đáng kể cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Nhưng khi khu vực FDI đã chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu, có lẽ đã đến lúc thành công của hội nhập cần được nhìn nhận bằng những thước đo sâu hơn. Bởi sau cùng, điều đáng quan tâm không chỉ là Việt Nam đã tham gia sâu đến đâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, mà còn là vị trí của nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi giá trị ấy đang được nâng lên như thế nào.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
