menu
Vì sao “chống bão” luôn thua trong cuộc đua ngàn tỷ USD chống biến đổi khí hậu?
Thu Trà
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Vì sao “chống bão” luôn thua trong cuộc đua ngàn tỷ USD chống biến đổi khí hậu?

Năm 2025, thiên tai gây thiệt hại cho Việt Nam khoảng 97,000 tỷ đồng, gần 4 tỷ USD, với trận lũ lịch sử tại Đắk Lắk vượt đỉnh lũ 1993. Trên thế giới, năm 2023 có tới 1,780 tỷ USD được rót vào các dự án giảm phát thải như điện gió, điện mặt trời, trong khi hoạt động thích ứng như xây đê, làm cảnh báo sớm hay di dời dân cư chỉ nhận được 65 tỷ USD, chưa đầy 4%.

Điều này đặt ra câu hỏi lớn: Vì sao mặt trận chống bão lại luôn phải xếp sau cuộc đua tài chính khí hậu toàn cầu?

Vì sao chống bão luôn bị bỏ quên?

Tài chính khí hậu được chia thành hai nhánh. Giảm phát thải là dòng tiền cắt giảm khí nhà kính, dễ hình dung qua các cánh đồng điện gió, tấm pin điện mặt trời hay xe điện. Thích ứng hay chống chịu là tiền đề để sống chung với hậu quả biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra: xây đê chắn sóng, làm hệ thống cảnh báo sớm, gia cố nhà cửa chịu bão, hay giống lúa chịu mặn cho nông dân Đồng bằng sông Cửu Long.

Hai nhánh này đang nhận được số tiền rất chênh lệch. Theo báo cáo 2025 của tổ chức Climate Policy Initiative (CPI) công bố tháng 6/2025, dòng vốn khí hậu toàn cầu năm 2023 đạt kỷ lục 1,900 tỷ USD. Nhưng gần như toàn bộ số tiền này, tới 1,780 tỷ USD, chảy vào các dự án giảm phát thải. Thích ứng chỉ nhận được 65 tỷ USD và theo chính CPI, con số này nhiều khả năng vẫn bị đánh giá thấp hơn thực tế do khó khăn trong việc thống kê.

Vì sao lại lệch pha đến vậy? Một cánh đồng điện gió bán điện, tạo doanh thu đều đặn, cho nhà đầu tư con số lợi nhuận tính toán được trong vài năm nên dễ hút vốn tư nhân. CPI ghi nhận hơn một nửa vốn đầu tư giảm phát thải toàn cầu hiện đến từ khu vực tư nhân. Trong khi đó, một con đê hay hệ thống cảnh báo sớm không tạo doanh thu trực tiếp, chỉ giúp xã hội tránh một khoản thiệt hại có thể xảy ra hoặc không, lợi ích có thật nhưng khó đưa vào kế hoạch kinh doanh, càng khó bán như câu chuyện tăng trưởng cho nhà đầu tư. Nó giống việc mua bảo hiểm xe: không ai hào hứng bỏ tiền ra, vì khoản chi đó chỉ có giá trị vào đúng ngày xảy ra tai nạn.

Khoảng cách này không phải là suy đoán, mà được lượng hóa hằng năm bởi Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP). Báo cáo 2025 của UNEP cho biết, các nước đang phát triển cần 310-365 tỷ USD mỗi năm cho tới năm 2035 để thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong khi đó, năm 2023, các nước phát triển chỉ cung cấp 26 tỷ USD tài chính thích ứng chính thức cho các nước đang phát triển, thậm chí giảm nhẹ so với mức 28 tỷ USD của năm 2022. Nói cách khác, nhu cầu tài chính thích ứng hiện cao gấp 12-14 lần dòng vốn thực tế đang chảy vào.

Đáng chú ý hơn, UNEP ước tính khu vực tư nhân hiện chỉ đóng góp khoảng 5 tỷ USD mỗi năm cho thích ứng toàn cầu, dù có tiềm năng đạt tới 50 tỷ USD nếu có chính sách hỗ trợ phù hợp cho thấy đây không hẳn là vấn đề thiếu vốn, mà là thiếu cơ chế khuyến khích đúng chỗ.

Tại COP26 Glasgow năm 2021, các nước phát triển từng cam kết đến 2025 sẽ tăng gấp đôi tài chính thích ứng công ước quốc tế so với 2019, mức mà UNEP ước tính tương đương 40 tỷ USD vào 2025. Nhưng theo UNEP, nếu xu hướng hiện tại tiếp diễn, mục tiêu này nhiều khả năng không đạt được.

Tại COP29 ở Baku, các nước thống nhất mục tiêu tài chính khí hậu mới (NCQG): huy động ít nhất 300 tỷ USD/năm cho các nước đang phát triển vào 2035, gấp ba mục tiêu cũ 100 tỷ USD, với tham vọng rộng hơn là 1,300 tỷ USD/năm từ mọi nguồn lực (Lộ trình Baku-Belém). Cần lưu ý con số 300 tỷ USD này không dành riêng cho thích ứng mà gồm cả giảm phát thải và tổn thất, thiệt hại; nhiều nước đang phát triển đã chỉ trích kết quả COP29 là chưa đủ tham vọng và thiếu cơ chế đảm bảo tỷ trọng hợp lý cho thích ứng.

Việt Nam: bão lũ ngày càng dữ và bài toán ngân sáchCuối năm 2025, người dân khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk đã chứng kiến trận lũ lịch sử với mực nước trên lưu vực sông Ba vượt cả đỉnh lũ năm 1993. Đây chỉ là một lát cắt trong một năm thiên tai bất thường và khốc liệt, tính đến đầu tháng 12, thiên tai trên cả nước đã làm hàng trăm người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế ước tính lên tới 97,000 tỷ đồng. Trước đó, vào tháng 9/2024, bão Yagi cùng hoàn lưu sau bão đã gây ra thiệt hại hơn 81,700 tỷ đồng (gần 3.3 tỷ USD) theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội, khiến GDP năm đó giảm khoảng 0.15 điểm phần trăm so với kịch bản ban đầu.

Trong bối cảnh đó, bài toán nguồn lực cho công tác chống chịu ngày càng trở nên cấp bách. Theo Báo cáo cập nhật Kế hoạch Quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu (NAP cập nhật), Việt Nam cần 55-92 tỷ USD để triển khai các nhiệm vụ thích ứng giai đoạn 2021-2030.

Con số này có sự khác biệt so với ước tính trong Báo cáo Quốc gia về Khí hậu và Phát triển (CCDR) do World Bank công bố năm 2022. Tính cho giai đoạn dài hơn từ 2022 đến 2040, tổng nhu cầu đầu tư cho cả hai cấu phần thích ứng và giảm phát thải của Việt Nam đạt 368 tỷ USD, trong đó riêng nguồn vốn ưu tiên cho thích ứng chiếm 254 tỷ USD, phần dành cho giảm phát thải 81 tỷ USD. Cùng báo cáo này cho biết riêng năm 2020, Việt Nam đã thiệt hại 10 tỷ USD, tương đương 3.2% GDP, do tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Dù có sự khác biệt về phạm vi và mốc thời gian, cả hai nguồn số liệu đều minh chứng rằng quy mô vốn cần thiết cho hoạt động thích ứng ở Việt Nam là khá lớn.

Trong khi đó, dòng vốn tín dụng xanh trong hệ thống tài chính nội địa vẫn tiếp tục nghiêng hẳn về phía giảm phát thải. Theo Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt 828,000 tỷ đồng với sự tham gia của 82 tổ chức tín dụng, nhưng tỷ trọng này mới chỉ chiếm 4.3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Danh mục phân loại xanh quốc gia tại Quyết định 21/2025/QĐ-TTg (có hiệu lực từ ngày 22/08/2025) được mở rộng từ 12 lên 45 loại hình dự án thuộc 7 lĩnh vực xanh. Tuy nhiên, phần lớn danh mục vẫn tập trung vào năng lượng tái tạo, giao thông và công nghiệp chế biến, trong khi lĩnh vực tài nguyên nước,gắn kết trực tiếp với hệ thống đê điều và phòng chống ngập lụt, chỉ có vỏn vẹn 3 loại hình dự án được liệt kê.

Nhiều quốc gia châu Á đã chủ động thiết lập các nguồn tài chính độc lập dành riêng cho công tác thích ứng. Theo World Bank, Nhật Bản trong lịch sử đã duy trì việc dành hơn 5% ngân sách tài khóa thường xuyên cho công tác phòng chống thiên tai, một tỷ lệ hiếm hoi mà ít quốc gia nào duy trì được dài hạn.

Philippines, với sự hỗ trợ của World Bank, đã phát hành trái phiếu thảm họa đầu tiên trị giá 225 triệu USD từ năm 2019 (đáo hạn 2022) và đến nay đã huy động hơn 14 tỷ USD hạn mức chuyển giao rủi ro, trong đó có gói bảo hiểm bảo vệ cho hơn 130,000 trường học. Bangladesh giảm thiểu đáng kể thiệt hại do bão nhờ nhiều năm kiên trì đầu tư vào quản lý rủi ro thiên tai, đồng thời mới đây tiếp nhận khoản vay trị giá 400 triệu USD từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhằm xây dựng chiến lược tài trợ rủi ro thiên tai quốc gia, bao gồm cả các sản phẩm bảo hiểm mùa vụ cho người dân.

Thu hẹp khoảng trống: Ai trả tiền, và trả bằng cách nào?

Để huy động nguồn vốn hàng trăm tỷ USD cho việc ứng phó với biến đổi khí hậu, một số cơ chế đang được thử nghiệm và mở rộng.

Quỹ Khí hậu Xanh (GCF), quỹ khí hậu đa phương lớn nhất thế giới, đặt mục tiêu cân bằng 50-50 giữa vốn giảm phát thải và thích ứng trong toàn danh mục, với tối thiểu 50% vốn thích ứng dành cho các nước dễ tổn thương nhất.

Tại Việt Nam, GCF cùng UNDP đang tài trợ dự án 30.2 triệu USD giúp nông dân sản xuất nhỏ tại 5 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Thuận, Ninh Thuận và Khánh Hòa thích ứng với mưa thất thường và hạn hán; hiện đại hóa hệ thống thủy lợi, cải thiện an ninh nguồn nước cho hơn 222,400 người dân. Dự án này bổ sung cho một dự án khác của GCF-UNDP đang phục hồi rừng ngập mặn và xây nhà chống bão lũ cho cộng đồng ven biển miền Trung.

Một hướng khác là các công cụ chuyển giao rủi ro như bảo hiểm theo chỉ số thời tiết hay trái phiếu thảm họa mà Philippines đang áp dụng. Thay vì chờ ngân sách Nhà nước gánh toàn bộ thiệt hại sau mỗi cơn bão, các công cụ này chuyển một phần rủi ro sang thị trường tài chính quốc tế, giải ngân nhanh dựa trên tiêu chí đo lường khách quan như tốc độ gió hay lượng mưa, thay vì chờ thẩm định thiệt hại thực tế, việc có thể mất nhiều tháng. Đây là hướng Việt Nam, với tần suất bão lũ ngày càng dày, có thể tham khảo, đặc biệt cho nông nghiệp và các địa phương ven biển miền Trung.

Trong nước, ngân hàng thương mại vẫn là kênh huy động vốn quan trọng nhất. Danh mục phân loại xanh mới theo Quyết định 21/2025/QĐ-TTg là bước tiến giúp minh bạch hóa tiêu chí xanh, nhưng để dòng vốn thực sự chảy vào thích ứng, ngành ngân hàng cần thêm các sản phẩm tín dụng gắn trực tiếp với hạ tầng chống chịu như tín dụng cho nông dân chuyển đổi sang giống cây, con chịu mặn, chịu hạn, hay tín dụng cho doanh nghiệp xây dựng công trình chống ngập.

Suy cho cùng, đây không hẳn là câu chuyện thiếu tiền mà là bài toán ưu tiên phân bổ: tiền vẫn đang chảy về nơi dễ đo đếm lợi nhuận hơn là nơi cần thiết nhất để bảo vệ sinh mạng và tài sản trước thiên tai. Với một quốc gia có đường bờ biển hơn 3,260km và ngày càng hứng chịu nhiều cơn bão dị thường như Việt Nam, thu hẹp khoảng cách này không phải là một lựa chọn, mà là điều kiện để duy trì đà tăng trưởng kinh tế trong những thập kỷ tới. Chưa có lời giải hoàn hảo cho bài toán này nhưng mỗi đồng vốn được hướng đúng vào thích ứng hôm nay là một phần thiệt hại được ngăn chặn trong tương lai.

 

Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo
Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay