menu
Kênh tài trợ thương mại mới của ngân hàng: khi rủi ro tín dụng không biến mất mà chỉ đổi chỗ trên bảng cân đối
Duy Anh VDSC Pro
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Kênh tài trợ thương mại mới của ngân hàng: khi rủi ro tín dụng không biến mất mà chỉ đổi chỗ trên bảng cân đối

Kể từ quý 4/2024, nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam xuất hiện khoản mục mới liên quan đến phải thu từ hợp đồng tín dụng. Sự chuyển đổi này không chỉ đơn thuần là mở rộng nhu cầu tài trợ mà còn phản ánh sự thay đổi khung pháp lý và tiềm ẩn rủi ro tín dụng.

Từ quý 4/2024, trên bảng cân đối của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần bắt đầu xuất hiện một khoản mục mới trong nhóm Tài sản có khác: phải thu từ nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do chính ngân hàng phát hành. Chỉ sau sáu quý, quy mô của nhóm ngân hàng có công bố số liệu đã tăng hơn gấp đôi, từ khoảng 75.000 tỷ đồng cuối năm 2024 lên gần 158.000 tỷ đồng tại quý 2/2026, tương đương khoảng 92% mức đỉnh mà nghiệp vụ UPAS L/C từng đạt được trong giai đoạn 2022. Tốc độ mở rộng này không đến từ nhu cầu tài trợ thương mại tăng đột biến, mà phản ánh một sự dịch chuyển công cụ mang tính kỹ thuật, xuất phát trực tiếp từ thay đổi khung pháp lý có hiệu lực cùng thời điểm.

Bản chất nghiệp vụ và lý do dòng vốn dịch chuyển

Nghiệp vụ này là biến thể của forfaiting, vốn là một sản phẩm tài trợ thương mại quốc tế đã được chuẩn hóa, trong đó một ngân hàng mua lại khoản phải thu theo L/C của nhà xuất khẩu để nhận thanh toán trước, đồng thời gánh luôn rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành và nhà nhập khẩu. Khác biệt mấu chốt ở biến thể đang được ghi nhận tại Việt Nam nằm ở chỗ bên bỏ vốn mua lại bộ chứng từ chính là ngân hàng đã phát hành L/C đó, chứ không phải một bên thứ ba. Nói cách khác, ngân hàng vừa cam kết trả nợ thay khách hàng thông qua L/C trả chậm, vừa tự ứng vốn thanh toán ngay cho bên bán hàng, để rồi ghi nhận khoản đã chi ra như một khoản phải thu trong Tài sản có khác thay vì đưa vào dư nợ cho vay khách hàng. Nghĩa vụ hoàn trả gốc và phí cuối cùng vẫn thuộc về bên đề nghị mở L/C, tức doanh nghiệp nhập khẩu hoặc bên mua hàng trong nước.

Động lực thúc đẩy sự dịch chuyển này gắn trực tiếp với hai thông tư cùng có hiệu lực từ 1/7/2024. Thông tư 21/2024/TT-NHNN siết lại hoạt động UPAS L/C bằng cách buộc ngân hàng phải tính số dư này vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng, đồng nghĩa với việc tiêu tốn room tín dụng và chịu các giới hạn phân loại nợ theo Luật các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, Thông tư 31/2024/TT-NHNN lại loại trừ chính hoạt động mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành khỏi phạm vi phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể, với lập luận rằng đây là một khoản mua bán bộ chứng từ thuộc hoạt động kinh doanh khác chứ không phải hình thức cấp tín dụng. Số liệu quan sát được cho thấy diễn biến hai chiều rất rõ: số dư UPAS L/C toàn nhóm từng đạt đỉnh hơn 171.000 tỷ đồng cuối năm 2022, giảm mạnh ngay khi Thông tư 21 có hiệu lực và về gần bằng 0 từ giữa năm 2025, trong khi số dư phải thu từ nghiệp vụ thay thế xuất hiện lần đầu tại quý 3/2024 và tăng liên tục kể từ đó. Đây là bằng chứng khá rõ cho việc dòng vốn tài trợ thương mại đã dịch chuyển sang cấu trúc mới, nơi mang lại lợi thế lớn hơn về các chỉ tiêu giám sát, hơn là một sự mở rộng thực chất về nhu cầu tài trợ.

Mức độ tập trung và những điểm cần lưu ý trong phân bổ theo ngân hàng

Toàn bộ xu hướng tăng tập trung ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân. Riêng SHBTCB đã chiếm gần hai phần ba quy mô toàn nhóm tại thời điểm cuối quý 2/2026, với số dư lần lượt đạt khoảng 75.500 tỷ đồng và 26.200 tỷ đồng, tương đương tỷ trọng 48% và 17% trên tổng quy mô. Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, chỉ có Vietcombank công bố khoản mục này, với quy mô khiêm tốn và thậm chí giảm 17% trong năm 2025. Điểm đáng chú ý là quy mô nghiệp vụ giữa các ngân hàng không tương quan với năng lực tài trợ thương mại quốc tế thực tế: Vietcombank, ngân hàng dẫn đầu thị trường thanh toán quốc tế Việt Nam, lại có số dư khá nhỏ, trong khi SHB và TCB không thuộc nhóm dẫn đầu về tài trợ thương mại quốc tế nhưng lại chiếm phần lớn quy mô toàn ngành. Tương quan âm này khó giải thích thuần túy bằng nhu cầu tài trợ nhập khẩu, và gợi ý rằng một phần đáng kể số dư có thể đang phục vụ các giao dịch mua bán hàng hóa nội địa giữa hai doanh nghiệp cư trú thông qua L/C nội địa bằng VNĐ, một hình thức vẫn nằm hoàn toàn trong phạm vi cho phép của khung pháp lý hiện hành.

Một điểm cần theo dõi thêm nằm ở cơ cấu kỳ hạn tại Techcombank. Trong bảng phân loại kỳ hạn Tài sản có khác theo báo cáo tài chính, Techcombank có tới 31.082 tỷ đồng thuộc dải kỳ hạn trên một năm đến năm năm, cao hơn cả số dư 26.218 tỷ đồng của chính khoản mục đang được phân tích. Đây là đặc điểm riêng biệt so với các ngân hàng khác trong mẫu quan sát: tại SHB, cấu phần kỳ hạn một đến năm năm chỉ khoảng 139 tỷ đồng trên tổng số dư 61.562 tỷ đồng; tại MB là 101 tỷ đồng trên 16.176 tỷ đồng; tại VPBank gần như bằng 0. Trong khi đó, tài trợ thương mại theo thông lệ hiếm khi có kỳ hạn vượt quá 360 ngày. Sự lệch pha kỳ hạn tại Techcombank vì vậy là một tín hiệu cần kiểm chứng thêm, dù chưa thể kết luận chắc chắn vì Tài sản có khác còn bao gồm nhiều cấu phần khác ngoài khoản mục này.

Rủi ro chính sách là yếu tố cần theo dõi, không phải vấn đề tuân thủ

Về bản chất, đây là hoạt động hợp pháp, được thực hiện đúng theo hướng dẫn hiện hành của Ngân hàng Nhà nước, và không đặt ra vấn đề về tính tuân thủ. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng đối với bên đề nghị mở L/C không hề biến mất khi chuyển từ hình thức UPAS L/C sang hình thức mới, mà chỉ đổi vị trí trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng: từ một khoản dư nợ cấp tín dụng chịu sự giám sát chặt chẽ, trở thành một khoản phải thu nằm ngoài room tín dụng, không phải phân loại nhóm nợ, không phải trích lập dự phòng cụ thể và không được tính vào các tỷ lệ thanh khoản. Nếu Ngân hàng Nhà nước trong tương lai thu hẹp phạm vi ngoại lệ này tại Thông tư 31, các ngân hàng sẽ phải phân loại lại khoản mục và trích lập dự phòng tương ứng. Tác động trực tiếp lên lợi nhuận trong kịch bản đó nhìn chung không lớn, do mức trích lập dự phòng chung 0,75% trên số dư hiện tại chỉ tương đương vài chục đến vài trăm tỷ đồng đối với từng ngân hàng. Tác động đáng kể hơn nằm ở room tín dụng: một khi khoản mục này được tính vào dư nợ cấp tín dụng, nó sẽ chiếm dụng hạn mức tăng trưởng đã được cấp, buộc ngân hàng phải giảm tốc độ cho vay mới hoặc xin nới thêm room. Ảnh hưởng sẽ rõ rệt hơn ở những ngân hàng có quy mô nghiệp vụ này lớn tương đối so với dư nợ cấp tín dụng hiện hữu, đồng thời có thể kéo theo rủi ro thứ cấp nếu chất lượng tài sản thực của danh mục tài trợ thương mại này không đồng đều như số dư sổ sách thể hiện.

Nhìn chung, sự mở rộng nhanh của nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành là một hiện tượng đáng chú ý hơn là một câu chuyện tăng trưởng. Với quy mô toàn ngành đã tiệm cận mức đỉnh cũ của UPAS L/C chỉ sau sáu quý, và mức độ tập trung cao tại một số ngân hàng cụ thể, nhà đầu tư theo dõi nhóm cổ phiếu ngân hàng nên xem đây là một yếu tố cần đưa vào khung đánh giá chất lượng tài sản, bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, nợ xấu và thanh khoản công bố chính thức. Diễn biến chính sách liên quan đến phạm vi ngoại lệ tại Thông tư 31, cùng với khả năng cơ quan quản lý điều chỉnh cách phân loại khoản mục này trong thời gian tới, là điểm cần tiếp tục theo dõi, đặc biệt đối với các ngân hàng có tỷ trọng số dư nghiệp vụ này ở mức cao so với quy mô tín dụng doanh nghiệp.

Nhà đầu tư quan tâm đến diễn biến nhóm cổ phiếu ngân hàng và cần tư vấn đầu tư cá nhân hóa có thể liên hệ Duy Anh qua trang bio để được hỗ trợ chi tiết hơn.

Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo
Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews
Mã chứng khoán liên quan bài viết
11.75 (0.00%)
32.40 (0.00%)
prev
next

Từ khóa liên quan

Bấm vào mỗi từ khóa để xem bài cùng chủ đề

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay