Xăng E10 bán toàn quốc: Doanh nghiệp chỉ ra điểm nghẽn lớn
Sau những ngày đầu triển khai E10 trên toàn quốc, doanh nghiệp đầu mối cho rằng nguồn cung ethanol và cơ chế giá là hai bài toán lớn nhất cần sớm được giải quyết để bảo đảm tính bền vững của lộ trình nhiên liệu sinh học.
70% nhu cầu ethanol vẫn phụ thuộc nguồn nhập khẩu
Tại tọa đàm "Xăng E10 bán toàn quốc: Hiểu đúng, dùng đúng, triển khai hiệu quả" do Báo Tiền Phong tổ chức ngày 5/6, ông Trần Phú Bình - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội (Mipecorp) cho rằng, bên cạnh niềm tin của người tiêu dùng, việc xây dựng mức giá E10 đủ hấp dẫn để khuyến khích người dân sử dụng, đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp là một bài toán không dễ.
Theo ông Bình, để đưa E5 trước đây và E10 hiện nay ra thị trường, các doanh nghiệp đầu mối đã phải đầu tư rất lớn cho hệ thống hạ tầng phục vụ phối trộn và phân phối nhiên liệu sinh học. Các khoản đầu tư không chỉ bao gồm hệ thống kho bể, bồn chứa, trạm phối trộn, phương tiện vận chuyển mà còn cả việc cải tạo hệ thống bán lẻ.
"Đối với các cửa hàng xăng dầu, hệ thống bồn chứa, đường ống, cột bơm đều phải được sửa chữa, thay thế hoặc cải tạo bằng những vật liệu phù hợp với đặc tính của ethanol trong nhiên liệu sinh học", ông Bình cho biết.
Theo đại diện Mipecorp, đây là khoản đầu tư rất lớn, song hiện nay chưa được phân bổ đầy đủ vào cơ cấu giá bán lẻ xăng dầu. Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp đầu mối đang phải chấp nhận giảm tỷ suất lợi nhuận, tăng chi phí vận hành để giữ mức giá phù hợp cho người tiêu dùng và bảo đảm lộ trình triển khai E10 theo chủ trương của Chính phủ.
Ông Trần Phú Bình - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội chia sẻ tại toạ đàm.
Ông Bình cho rằng nếu muốn E10 thực sự trở thành lựa chọn lâu dài của thị trường, cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế giá phù hợp nhằm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Lãnh đạo Mipecorp, cũng cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay là nguồn cung ethanol (E100) - nguyên liệu chiếm 10% trong thành phần xăng E10. Theo tính toán, nhu cầu tiêu thụ xăng của Việt Nam hiện ở mức hơn 10 triệu m3 mỗi năm. Với tỷ lệ phối trộn 10%, thị trường sẽ cần khoảng 1 triệu m3 ethanol nhiên liệu mỗi năm.
Tuy nhiên, tổng công suất của các nhà máy sản xuất ethanol trong nước hiện mới đáp ứng được khoảng 300.000 m3, tương đương gần 30% nhu cầu. Khoảng 70% còn lại vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.
Ông Bình dẫn kinh nghiệm từ Trung Quốc - một trong những quốc gia sản xuất và tiêu thụ ethanol lớn nhất thế giới cho thấy ngay cả nước này đến nay cũng chưa thể triển khai E10 đồng bộ trên toàn quốc do những hạn chế về nguồn nguyên liệu.
"Ngay cả Trung Quốc cũng vẫn còn những địa phương sử dụng xăng khoáng bởi bài toán nguồn cung ethanol chưa được giải quyết triệt để", ông Bình nói, đồng thời cho rằng trong bối cảnh thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn địa chính trị, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
"Nếu chiến tranh hoặc xung đột xảy ra ở một số khu vực, ảnh hưởng đến nguồn cung ethanol nhập khẩu thì liệu chúng ta có đủ nguyên liệu để duy trì chương trình E10 lâu dài hay không? Đây là vấn đề rất quan trọng đối với an ninh năng lượng và tính bền vững của lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học", ông Bình đặt vấn đề.
Từ thực tế đó, doanh nghiệp kiến nghị Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan có chính sách hỗ trợ khôi phục hoạt động, nâng cao công suất các nhà máy ethanol trong nước nhằm từng bước chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào.
Cần cơ chế giá phù hợp và nguồn cung ethanol ổn định
Đồng quan điểm, ông Đỗ Hoàng Hà - Trưởng ban Kinh doanh Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho rằng, nguồn cung xăng nền hiện cơ bản được bảo đảm, song ethanol nhiên liệu trong nước vẫn cần thêm thời gian để đáp ứng đầy đủ nhu cầu phối trộn khi E10 được triển khai trên diện rộng.
Trong ngắn hạn, việc kết hợp linh hoạt giữa nguồn ethanol sản xuất trong nước và nguồn nhập khẩu là giải pháp cần thiết nhằm bảo đảm nguồn cung liên tục cho thị trường. Tuy nhiên, về dài hạn, Việt Nam cần từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu bằng cách phát triển đồng bộ chuỗi cung ứng ethanol trong nước.
Điều này đòi hỏi phải nâng cao công suất và chất lượng các nhà máy sản xuất ethanol, phát triển vùng nguyên liệu ổn định, đầu tư hệ thống kho bãi, vận chuyển và phối trộn chuyên dụng, đồng thời xây dựng các cơ chế hỗ trợ phù hợp về thuế, tín dụng và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Ông Đỗ Hoàng Hà - Trưởng ban Kinh doanh Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam
"Petrolimex sẽ tiếp tục đa dạng hóa nguồn cung, phối hợp với các nhà sản xuất trong nước và từng bước nâng tỷ trọng ethanol nội địa khi đáp ứng được các yêu cầu về sản lượng, chất lượng và hiệu quả kinh tế", ông Hà chia sẻ
Đại diện Petrolimex cũng cho rằng, việc triển khai nhiên liệu sinh học phát sinh nhiều chi phí mới so với xăng khoáng truyền thống. Chẳng hạn, ngoài chi phí tạo nguồn ethanol nhiên liệu, doanh nghiệp còn phải đầu tư cho hoạt động phối trộn, tồn chứa riêng, vận chuyển chuyên dụng, kiểm nghiệm chất lượng, bù hao hụt kỹ thuật cũng như nâng cấp hệ thống kho bãi và bán lẻ.
"Nếu các chi phí hợp lý này chưa được phản ánh đầy đủ trong cơ chế giá, doanh nghiệp sẽ khó bảo đảm hiệu quả kinh doanh cũng như mạnh dạn đầu tư mở rộng", ông Hà nhận định.
Từ thực tế đó, đại diện Petrolimex kiến nghị sớm hoàn thiện công thức giá cơ sở và chi phí kinh doanh định mức đối với E10 theo hướng phản ánh đúng các chi phí phát sinh, tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì nguồn cung ổn định và tiếp tục đầu tư cho thị trường.
Liên quan đến chất lượng xăng E10, ông Hà cho biết Petrolimex hiện áp dụng quy trình kiểm soát nghiêm ngặt ở tất cả các khâu, từ nhập nguyên liệu, phối trộn, tồn chứa, vận chuyển cho tới bán lẻ. Mỗi lô hàng đều được lấy mẫu, lưu mẫu và kiểm tra nhằm bảo đảm sản phẩm đến tay người tiêu dùng đáp ứng đầy đủ các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành. Tuy nhiên, một số quy chuẩn liên quan đến xăng nền, ethanol nhiên liệu và các chỉ tiêu kỹ thuật vẫn cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất và phù hợp hơn với điều kiện sản xuất, kinh doanh thực tế.
Hiện Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn ethanol nhập khẩu.
"Điều doanh nghiệp cần nhất hiện nay không chỉ là cơ chế giá hay nguồn nguyên liệu, mà còn là một môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có tính dự báo cao. Khi có lộ trình phát triển rõ ràng và nhất quán, doanh nghiệp mới mạnh dạn đầu tư cho hạ tầng, công nghệ phối trộn cũng như các dự án phát triển nguồn cung ethanol trong nước, qua đó tạo nền tảng để E10 phát triển bền vững trong dài hạn", ông Hà nhấn mạnh.
Trả lời về vấn đề này, ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), cho biết hiện Việt Nam có 4 nhà máy ethanol đang hoạt động tại Quảng Nam, Đồng Nai, Đắk Tô và Dung Quất với công suất khoảng 22.000 - 25.000 m3/tháng. Trong thời gian tới, các nhà máy tại Bình Phước và Đắk Nông dự kiến được đưa vào vận hành, nâng tổng năng lực cung ứng trong nước lên khoảng 500.000 m3/năm, đáp ứng 40-50% nhu cầu nguyên liệu cho xăng E10.
Theo ông Đào Duy Anh, nguồn ethanol trên thế giới hiện khá dồi dào, đặc biệt từ Mỹ và Brazil - hai quốc gia sản xuất ethanol lớn nhất thế giới và ít ảnh hưởng bởi chiến sự nên nguy cơ đứt gãy nguồn cung không lớn. Tuy nhiên, do quy mô nhập khẩu của từng doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ nên khó tiếp cận trực tiếp nguồn hàng từ Mỹ với giá cạnh tranh.
"Chúng tôi đề nghị các doanh nghiệp phối hợp nhập khẩu theo quy mô lớn để chia sẻ nguồn nguyên liệu và giảm chi phí", ông Duy Anh nói.
Về lâu dài, đại diện Bộ Công Thương cho hay, Bộ Công Thương đang và Bộ Tài chính nghiên cứu các cơ chế ưu đãi đầu tư, thuế và phí nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học trong nước, bảo đảm nguồn cung ethanol cho E10 và mục tiêu chuyển đổi xanh quốc gia.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
