Xuất khẩu cao su hướng tới tăng giá trị qua thị trường tín chỉ carbon
Ngành cao su Việt Nam đang định hướng khai thác tiềm năng từ thị trường tín chỉ carbon nhằm giảm dấu chân carbon và nâng cao giá trị xuất khẩu. Đây được xem là cơ sở để các doanh nghiệp tái cấu trúc hoạt động, đáp ứng tiêu chuẩn xanh quốc tế.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cao su đạt khoảng 789,500 tấn với trị giá 1.55 tỷ USD.
Khối lượng và giá trị xuất khẩu giảm nhẹ so với cùng kỳ, nhưng giá xuất khẩu bình quân tăng 8.9%, lên 1,963 USD/tấn. Khai thác tiềm năng carbon được xem là hướng đi giúp ngành tìm kiếm nguồn thu mới, giảm phát thải và củng cố lợi thế cạnh tranh.
Cây cao su là cây trồng dài ngày, có chu kỳ kinh doanh 25-35 năm, sinh khối lớn và khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon đáng kể. Đây là nền tảng để ngành cao su tham gia thị trường tín chỉ carbon, đồng thời tạo thêm giá trị cho sản phẩm xuất khẩu.
TS. Nghiêm Phương Thúy, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết doanh nghiệp có thể thương mại hóa kết quả giảm phát thải qua hai thị trường chính: thị trường tuân thủ, phát sinh từ nghĩa vụ pháp lý, và thị trường tự nguyện, dựa trên nhu cầu của tổ chức.
Bên cạnh đó là các cơ chế hợp tác quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Theo bà Thúy, tham gia thị trường carbon giúp doanh nghiệp đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng 0 và NDC của Việt Nam, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Muốn biến tiềm năng thành giá trị kinh tế, dữ liệu là yếu tố then chốt. Nhiều doanh nghiệp cao su lớn đã chuẩn bị tương đối bài bản.
Ông Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội Khoa học - Công nghệ, Tổng công ty Cao su Đồng Nai (DONARUCO) thông tin, doanh nghiệp đang quản lý khoảng 31,000ha cao su, trong đó hơn 9,000ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững VFCS/PEFC.
Doanh nghiệp có dữ liệu về từng lô, tuổi cây, giống, định mức phân bón, nhiên liệu được ghi chép qua nhiều năm. Đây là cơ sở để tính toán phát thải và khả năng hấp thụ carbon.
Tuy nhiên, triển khai dự án carbon vẫn gặp vướng mắc về pháp lý đất đai. Phần lớn diện tích cao su được quy hoạch là đất trồng cây lâu năm thay vì đất lâm nghiệp.
Ông Luân cho rằng cần làm rõ vườn cao su trên đất trồng cây lâu năm có phù hợp với phương pháp quản lý rừng cải tiến (IFM) hay không, cũng như tư cách pháp lý của doanh nghiệp thuê đất khi đăng ký dự án carbon.
TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận quản lý rừng bền vững, cho rằng ngành cao su cần phân biệt rõ hai mục tiêu: tạo tín chỉ để bán và giảm dấu chân carbon của sản phẩm.
Tín chỉ carbon có thể giao dịch, còn dấu chân carbon tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Giảm chỉ số này không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu môi trường mà còn nâng giá trị sản phẩm, nhất là khi các thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng tiêu chí xanh.
Một dự án tín chỉ carbon phải trải qua nhiều bước, từ xây dựng văn kiện dự án (PDD), thẩm định độc lập, đăng ký, đo đạc, báo cáo đến xác minh trước khi tín chỉ được cấp. Chi phí tư vấn, thẩm định và giám sát có thể lớn, tạo áp lực cho dự án nhỏ.
Để nâng hiệu quả, ông Hoàng Bảo Luân đề xuất xây dựng dự án carbon ở quy mô Tập đoàn. Việc gộp nhiều đơn vị thành viên vào một dự án lớn có thể giúp chia sẻ chi phí cố định, tăng quy mô tín chỉ và cải thiện hiệu quả đầu tư.
Chất lượng tín chỉ cũng quyết định giá trị. Thị trường đang chuyển từ ưu tiên số lượng sang chất lượng.
Một số báo cáo quốc tế cho thấy tín chỉ từ các dự án trồng và phục hồi rừng có chất lượng cao có thể đạt gần 30 USD/tín chỉ, cao hơn đáng kể so với tín chỉ chất lượng thấp. Quản lý rừng bền vững và minh bạch dữ liệu là điều kiện để ngành cao su nâng giá trị carbon.
Theo ông Luân, để thị trường carbon trở thành động lực gia tăng giá trị xuất khẩu, cần sự phối hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Cơ quan quản lý sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với cây cao su, gồm hệ số sinh khối, hệ số phát thải và phương pháp tính toán. Đồng thời, cần làm rõ quyền sở hữu tín chỉ trên đất thuê, trách nhiệm của doanh nghiệp khi quy hoạch sử dụng đất thay đổi.
Về phía doanh nghiệp thực hiện số hóa dữ liệu về phát thải, hấp thụ carbon và quản lý vùng trồng. Chứng chỉ quản lý rừng bền vững cũng góp phần chứng minh chất lượng sản phẩm với khách hàng quốc tế.
Hiện Việt Nam dự kiến khởi động sàn giao dịch carbon từ cuối tháng 06/2026. Tín chỉ carbon không chỉ là nguồn thu bổ sung mà còn có thể trở thành công cụ tái cấu trúc ngành cao su theo hướng bền vững, giúp giá trị sản phẩm nằm ở cả uy tín, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn xanh và trách nhiệm với môi trường.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
