menu
Vì sao cần phân tích và so sánh về lãi suất khi nói về tăng trưởng kinh tế?
Đoan Trang
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Vì sao cần phân tích và so sánh về lãi suất khi nói về tăng trưởng kinh tế?

TBKTSG Online ngày 4-1-2020 đăng tải bài viết "Khi nền kinh tế làm ra trong 1 năm chưa đủ trả lãi nợ vay" của nhóm chuyên gia độc lập trong và ngoài nước...

Sau khi bài viết được đăng tải, toà soạn nhận được nhiều ý kiến và bình luận với góc nhìn đa dạng từ độc giả, trong đó có nhiều ý kiến chưa đồng tình với những phân tích trong bài viết. Đặc biệt, chuyên gia Phan Minh Ngọc đã có bài phản biện “So sánh lãi suất giữa các nước là vô nghĩa”. Tòa soạn xin tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc bài viết của nhóm tác giả nhằm rộng đường dư luận và cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về những vấn đề của nền kinh tế. Toà soạn rất mong tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp và phản biện của quý độc giả.

Lãi suất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng hóa

Vì sao chúng tôi viết bài “Khi nền kinh tế làm ra trong 1 năm chưa đủ trả lãi nợ vay” lại so sánh lãi suất cho vay giữa Mỹ và Việt Nam? Lãi suất được nói đến trong bài là lãi suất thực, sau khi loại trừ lạm phát.

Có hai lý do chính. Lý do thứ nhất là để xác định với một nền kinh tế bình thường thì lãi suất thực mà bên vay (doanh nghiệp) phải trả là như thế nào so với lạm phát. Lý do thứ hai là từ lãi suất thực phải trả xem xét khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

Tất nhiên, lãi suất thực của các nước không giống nhau, vì nhiều yếu tố, nhưng yếu tố cơ bản là tiềm năng (hoặc khả năng) phát triển, trong đó có tiềm năng khoa học kỹ thuật. Ở các nền kinh tế đang phát triển, đây có thể là tiềm năng chưa được khai thác, một phần bởi lý do chưa có thể chế thích hợp. Và khi sự cản trở được xóa bỏ, công tác quản lý nhà nước được thực hành tốt hơn thì tốc độ phát triển của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP sẽ đạt mức cao nhất, do đó lãi suất thật có thể cao hơn các nền kinh tế khác. Nhưng điều này không thể tiếp tục mãi vì tiềm năng đã tới chỗ toàn dụng. Cạnh tranh giữa các nền kinh tế cũng là yếu tố quan trọng làm thay đổi lãi suất và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng hóa.

Việc so sánh lãi suất giữa Việt Nam và Mỹ cho thấy sự chênh lệch quá lớn giữa hai nền kinh tế, lớn đến mức tác giả Phan Minh Ngọc cho rằng sự so sánh là không có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, việc so sánh lãi suất của Việt Nam với Mỹ là để cung cấp thông tin toàn diện hơn cho bạn đọc: không phải ở các nước trên thế giới lãi suất đều cao như ở Việt Nam. Lãi suất cao không phải là đặc trưng của các nước đang phát triển. Lãi suất cho vay ở Trung Quốc không cao như Việt Nam, cụ thể, vào cuối năm 2019 bình quân gia quyền là 4,35% (https://tradingeconomics.com/china/lending-rate ). Lãi suất huy động ở Lào cũng không cao như ở Việt Nam (https://www.vietinbank.com.la/sites/home/tien-ich/lai-suat).

Thực tế ở Việt Nam, lãi suất cao gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nhiều năm. Đã có không ít ý kiến của doanh nghiệp phàn nàn về lãi suất ngân hàng cao đến mức ăn mòn hết lợi nhuận của doanh nghiệp.(https://bizlive.vn/doanh-nghiep/thue-lai-vay-nang-ganh-doanh-nghiep-3514888.html).

Về cách tính lãi của các ngân hàng, chúng tôi không có sự khác biệt so với tác giả Phan Minh Ngọc nhưng nhóm chúng tôi đã đi xa hơn, phân tích tổng quát hóa cho toàn nền kinh tế và nhấn mạnh vào khu vực phi tài chính. Tác giả Phan Minh Ngọc dùng công thức tính lãi/lợi nhuận của từng ngân hàng, lấy lãi cho vay trừ đi lãi phải trả người ký gửi tiền, rồi sau đó phải trừ đi chi phí điều hành. Tỷ lệ lãi hay lợi nhuận này cũng phải lớn hơn lạm phát thì ngân hàng mới bảo đảm được giá trị đồng tiền của nguồn vốn và như thế mới có thể tồn tại dài lâu. Và cách tính này cũng chỉ dùng để phân tích ngân hàng thuộc khu vực tài chính, chứ không áp dụng được cho khu vực phi tài chính, chiếm đến 95% GDP của Việt Nam.

Chúng tôi cho rằng lãi suất ở Việt Nam cao tùy thuộc chính vào mức độ rủi ro của việc cho khách hàng vay. Nhưng suy luận của tác giả Phan Minh Ngọc có vẻ khác lạ khi cho rằng doanh nghiệp có tỷ lệ nợ trên vốn tự có và tương tự, nền kinh tế Việt Nam có tỷ lệ nợ trên GDP cao và đang tăng lên không nhất thiết tạo ra rủi ro cao và tăng lên cho nền kinh tế, cũng như cho chính bản thân các ngân hàng.

Theo quan điểm của chúng tôi, ngân hàng không thể tăng lãi suất trả cho người gửi tiền để huy động tiền gửi, rồi tăng lãi suất cho vay bằng lãi suất huy động cộng thêm chi phí và lợi nhuận ngân hàng và cứ như vậy, cho vay càng nhiều thì lại càng kiếm được nhiều lợi nhuận. Điều này dễ dàng đưa đến phá sản và làm suy sụp nền kinh tế.

Nguy cơ rủi ro từ việc tiếp tục tăng lãi suất

Trong kinh tế thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp phi tài chính không thể tăng sản lượng hay tăng giá tùy thích để tăng doanh thu và lãi vì hàng không bán được thì lỗ và sạt nghiệp. Lãi suất càng cao thì rủi ro càng cao cho cả doanh nghiệp, ngân hàng lẫn nền kinh tế. Với mức vay nợ của khu vực phi tài chính cao như Việt Nam hiện nay mà chưa nổ ra khủng hoảng là vì Ngân hàng Nhà nước bơm tiền ra ở mức cao để cho vay hoặc cho phép khoanh nợ, giãn nợ, đảo nợ, biến nợ không trả được thành nợ mới và chuyển sang cho VAMC quản lý.

Bảng chỉ số cung tiền của Việt Nam:

Chỉ số 2015 2016 2017 2018
Tốc độ tăng cung tiền M2 (%) 16,2 18,4 15,0 12,4
Tỷ lệ cung tiền M2/GDP (%) 143,6 158,3 163,7 166,2
Nguồn: ADB
Bảng trên cho thấy cung tiền tăng cao hơn tốc độ tăng GDP nhiều lần. Cung tiền M2 tăng nhanh hơn GDP danh nghĩa sẽ làm cho tỷ lệ M2/GDP tăng theo thời gian.

Lấy ví dụ, trường hợp của công ty Hoàng Anh Gia Lai cho thấy khi doanh nghiệp vay nợ nhiều thì khó trả nợ (bài đã dẫn ở trên) và ngân hàng trở thành con tin của doanh nghiệp, nhất là khi doanh nghiệp vay tín dụng ngân hàng ngắn hạn để đầu tư trung và dài hạn.

Tác giả Phan Minh Ngọc cho rằng không thể so sánh mức trả lãi thuần (chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát) với GDP, cũng như không thể so sánh chi phí vay với lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có một quy tắc vàng đã được E.S. Phelps (được giải Nobel về quy tắc này) chứng minh: Trong nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo thì lãi suất (lãi suất thực, đã trừ lạm phát) bằng với tốc độ phát triển.

Dư nợ khu vực phi tài chính lên đến 276% GDP. Nợ này doanh nghiệp phải trả. Gánh nặng trả nợ bằng tổng số nợ nhân với lãi suất đi vay (cao hơn lãi suất huy động). Vậy làm sao doanh nghiệp trả được nợ? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp phải dựa vào sự gia tăng lượng hàng hóa bán ra và lãi tạo ra. Lãi/lợi nhuận của doanh nghiệp chính là từ giá trị thặng dư, một phần của giá trị tăng thêm. GDP là tổng của giá trị tăng thêm và thuế hàng hóa của tất cả doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Tổng quát hóa, trên cơ sở giản lược vấn đề thì nếu lãi/lợi nhuận của doanh nghiệp không tăng bằng tốc độ tăng GDP của nền kinh tế thì người vay sẽ gặp vấn đề về chi trả. Vì vậy, lãi suất cho vay cần được so sánh với tốc độ tăng GDP. Tốc độ tăng GDP là mức tăng thực, dựa vào giá năm gốc, tức là trừ lạm phát. Như thế để so sánh được thì lãi suất cũng phải trừ lạm phát. Vì thế mà lãi suất thật phải trả cần được liên hệ với tốc độ tăng của GDP (theo giá cố định). Với lãi suất cho vay 11-12%, trừ lạm phát 2,8% thì lãi suất thực là 9,2%, cao hơn tăng trưởng GDP (7%). Tức là mức lãi suất hiện nay đang ở vùng báo động đỏ, nếu tiếp tục tăng cao là nguy hiểm cho nền kinh tế.

Một trường hợp khác có thể đưa ra phân tích là câu chuyện chủ đầu tư khu phức hợp Cocobay (Đà Nẵng) không trả được lãi suất 12% cho khách hàng từ sau ngày 31-12-2019. Dù vì lý do gì thì đây vẫn là thực tế doanh nghiệp không thực hiện được cam kết với khách hàng. Nếu không kịp thời xử lý vụ việc thì ngân hàng, nơi bảo lãnh cho dự án và bảo lãnh thanh toán sẽ bị cuốn vào vòng xoáy thanh khoản. Mức độ lây lan sẽ tùy thuộc vào tình trạng vay nợ của Cocobay nhiều hay ít và mức độ sở hữu chéo của các ngân hàng. Cuộc khủng hoảng nợ thường chỉ bắt đầu từ một mắc xích riêng lẻ nào đó rồi mới lây lan rộng ra các doanh nghiệp khác, nếu mầm mống khủng hoảng không được nhìn thấy và xử lý kịp thời.

Năm 2019 đã kết thúc với nhiều thành tích về kinh tế và thực sự hiếm khi nền kinh tế đồng thời vừa ổn định vĩ mô vừa tăng trưởng khá cao như vậy. Nhưng nhóm chuyên gia chúng tôi muốn cảnh báo rằng Chính phủ và các bộ ngành cần nhìn nhận thấu đáo hơn, sâu xa hơn vào những vấn đề của nền kinh tế, trong đó có vấn đề mà nhóm tác giả đã đề cập: tiếp tục tăng lãi suất khi nền kinh tế vay nợ nhiều sẽ có thể gây sụp đổ hệ thống. Có nhận ra và giải quyết sớm vấn đề này mới tránh được mây mù kéo đến trong năm 2020 và những năm tiếp theo.

Mong rằng các nhà kinh tế cùng nhau thảo luận tìm ra giải pháp hữu ích giúp Chính phủ điều hành tháo gỡ được nút thắt nợ xấu. Việc dùng lãi suất cao để thu hút luồng tiền nước ngoài vào có thể giúp ổn định tỷ giá nhưng lại làm khó cho doanh nghiệp phát triển. Và do đó, doanh nghiệp khó trả được nợ cho ngân hàng có nguy cơ dẫn đến phản ứng dây truyền, tác động xấu đến nền kinh tế.

(*) Nhóm chuyên gia độc lập là tác giả bài viết, gồm:

- Ông Vũ Quang Việt, chuyên gia kinh tế, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên Hiệp Quốc
- Ông Phạm Đỗ Chí, nguyên chuyên gia tư vấn kinh tế của IMF Liên Hiệp Quốc.

- Ông Phan Thanh Hà, chuyên gia tài chính.

- Ông Tô Văn Trường, chuyên gia tài nguyên và môi trường

Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo
Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews

Từ khóa liên quan

Bấm vào mỗi từ khóa để xem bài cùng chủ đề

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay