menu
Vi phạm đất đai tồn tại hàng chục năm: Thời hiệu xử phạt được tính thế nào?
Phạm Học
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Vi phạm đất đai tồn tại hàng chục năm: Thời hiệu xử phạt được tính thế nào?

Ngày 26/05/2026, Công văn 2205/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ của Cục Quản lý đất đai Sở Nông nghiệp và Môi trường đã giải thích cụ thể về việc xác định thời điểm tính thời hiệu xử phạt đối với hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất.

Trong thực tiễn quản lý và sử dụng đất đai, không ít trường hợp hành vi vi phạm đã phát sinh từ nhiều năm, thậm chí hàng chục năm trước nhưng chỉ được cơ quan Nhà nước xem xét khi người sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai hoặc đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đó, một trong những vấn đề pháp lý quan trọng nhất được đặt ra là liệu hành vi vi phạm còn trong thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hay đã hết thời hiệu theo quy định của pháp luật.

Cơ sở pháp lý về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính như sau:

“a) Đối với các hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đã kết thúc thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

b) Đối với các hành vi vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đang thực hiện thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm".

Khoản 3 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm được xác định như sau:

“a) Đối với các hành vi quy định tại các Điều 17, 18, 19, 20, 21, 22 và 23 Nghị định này thì thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm mà các bên liên quan đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc văn bản giao dịch đã ký kết;

b) Đối với các hành vi quy định tại các Điều 14, 24, 26 và 27 Nghị định này thì thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm đã thực hiện xong các hoạt động của hành vi vi phạm đó;

c) Đối với các hành vi quy định tại Điều 28 Nghị định này thì thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm đã thực hiện xong việc cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu không chính xác hoặc hết thời hạn theo yêu cầu của cơ quan thanh tra, kiểm tra mà không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu cho tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật".

Từ quy định này có thể thấy, pháp luật hiện hành phân biệt rõ hai nhóm hành vi vi phạm. Đối với hành vi đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm hành vi chấm dứt. Trong khi đó, đối với hành vi đang thực hiện thì thời hiệu chỉ bắt đầu được tính kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm. Chính sự phân biệt này là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định liệu hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ nhiều năm trước có còn bị xử phạt hay không.

Công văn của Cục Quản lý đất đai về việc xác định thời điểm phát hiện hành vi vi phạm

Cục Quản lý đất đai đã viện dẫn khoản 18 Điều 20 Luật Đất đai năm 2024 quy định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là:

“Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai".

Theo Cục Quản lý đất đai, phát hiện hành vi vi phạm hành chính phải gắn liền với hoạt động thực thi công vụ của cơ quan có thẩm quyền thông qua công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Việc phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai sẽ thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi... của cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công. Khi phát hiện hành vi vi phạm thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 32 Nghị định 123/2024/NĐ và đây cũng chính là căn cứ xác định thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.

Áp dụng vào trường hợp cụ thể đối với người dân đã tự ý xây dựng nhà trên đất vườn, hay lấp đất ao để làm nhà từ những năm 1994. Trên sổ mục kê năm 1987 ghi rõ mảnh đất đó là đất ao, đất vườn, đến bản đồ địa chính năm 1998 được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt là đất ở, nhưng không bị xử phạt vi phạm hành chính. Đến bản đồ năm 2008, tiếp tục được ghi nhận là đất ở được phê duyệt bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và không bị xử phạt vi phạm hành chính. Nay người dân đi làm sổ đỏ, kê khai việc tự ý chuyển mục đích từ đất ao, đất vườn lên làm đất ở năm 1994, vậy thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính từ năm 1998 (khi bản đồ địa chính được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt) hay được tính từ thời điểm người dân kê khai cấp sổ và gửi hồ sơ lên UBND cấp xã để làm sổ đỏ?

Theo nội dung Công văn 2205/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ, Cục Quản lý đất đai căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP nêu rõ thời điểm để tính thời hiệu xử phạt đối với trường hợp này là thời điểm người dân đi làm sổ đỏ, kê khai việc tự ý chuyển mục đích từ đất ao, đất vườn lên làm đất ở đối với trường hợp nếu cơ quan Nhà nước phát hiện hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính.

Từ đó, có thể thấy dù việc xây dựng nhà ở đã hoàn thành từ nhiều năm trước nhưng khi sử dụng đất ở trên diện tích đất chưa được phép chuyển mục đích vẫn đang tiếp tục tồn tại. Vì vậy, hành vi vi phạm vẫn được coi là đang diễn ra trên thực tế.

Tác động của quy định và nội dung hướng dẫn của Cục Quản lý đất đai

Việc Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện được tính từ thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm, cùng với cách giải thích tại Công văn 2205/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ của Cục Quản lý đất đai, có tác động đáng kể đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai cũng như quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Theo đó, đối với các trường hợp tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ nhiều năm trước nhưng tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích vẫn còn tồn tại trên thực tế, cơ quan Nhà nước vẫn có cơ sở để xem xét xử phạt khi phát hiện vi phạm trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai.

Bên cạnh đó, nội dung hướng dẫn của Cục Quản lý đất đai cũng tạo cơ sở để các cơ quan quản lý đất đai địa phương thống nhất hơn trong việc xác định thời điểm phát hiện hành vi vi phạm và áp dụng thời hiệu xử phạt. Ngoài ra, phát hiện vi phạm phải được thể hiện thông qua việc lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định.

Qua đó, Công văn 2205/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ của Cục Quản lý đất đai có ý nghĩa thực tiễn trong công tác quản lý đất đai, đặc biệt đối với các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không đúng quy định đã tồn tại trong thời gian dài, góp phần thống nhất trong việc áp dụng các quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews
Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay