Nghỉ việc trong năm nay: Có 4 quyền lợi nhiều người chưa biết
Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động không chỉ cần hoàn tất thủ tục nghỉ việc mà còn phải kiểm tra các khoản tiền và quyền lợi mình được hưởng. Trong đó có tiền lương chưa thanh toán, tiền phép năm chưa nghỉ, trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp mất việc làm nếu đáp ứng đủ điều kiện.
Tiền phép năm chưa nghỉ
Theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, trường hợp người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Như vậy, khi nghỉ việc, người lao động cần kiểm tra số ngày phép năm còn lại để xác định mình có thuộc trường hợp được thanh toán hay không.
Công văn 514/ATLĐ-CSBHLĐ năm 2021 của Cục An toàn lao động cũng hướng dẫn về việc thanh toán ngày nghỉ hằng năm.
Đáng chú ý, Bộ luật Lao động 2019 khuyến khích những thỏa thuận bảo đảm cho người lao động có điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật. Vì vậy, trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể thỏa thuận thanh toán tiền cho những ngày phép năm chưa nghỉ theo hướng có lợi hơn cho người lao động.
Tiền lương cho những ngày đã làm việc nhưng chưa được trả
Đây là khoản tiền người lao động cần kiểm tra khi nghỉ việc nếu doanh nghiệp vẫn còn tiền lương chưa thanh toán cho những ngày đã làm việc.
Theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của người lao động, trong đó có tiền lương.
Trong một số trường hợp đặc biệt, thời hạn thanh toán có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, chẳng hạn khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, chia, tách, hợp nhất...
Do đó, người lao động nên đối chiếu tiền lương, các khoản phải thanh toán và thời điểm chấm dứt hợp đồng để bảo đảm quyền lợi của mình.
Trợ cấp thất nghiệp
Khác với tiền lương và một số khoản do doanh nghiệp thanh toán, trợ cấp thất nghiệp được chi trả từ Quỹ Bảo hiểm xã hội nếu người lao động đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.
Người lao động cần đáp ứng các điều kiện gồm:
- Đã chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp hợp đồng lao động.
- Đã đăng ký thất nghiệp và nộp hồ sơ hưởng trợ cấp tại Trung tâm dịch vụ việc làm.
- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Theo nội dung được nêu trong bài, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được tính:
Mức hưởng hàng tháng = Bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp × 60%.
Về thời gian hưởng, cứ đóng đủ 12 - 36 tháng thì được hưởng 3 tháng trợ cấp. Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng sẽ được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp, nhưng thời gian hưởng tối đa không quá 12 tháng.
Vì vậy, người lao động nghỉ việc cần lưu ý thời gian đăng ký và nộp hồ sơ để tránh bỏ lỡ quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp.
Trợ cấp mất việc làm
Một khoản khác người lao động có thể được nhận khi nghỉ việc là trợ cấp mất việc làm, nhưng không phải mọi trường hợp chấm dứt hợp đồng đều được hưởng.
Theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2019, người lao động được hưởng trợ cấp mất việc làm nếu thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng do người sử dụng lao động cho thôi việc vì thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình; chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản.
Ngoài ra, người lao động phải đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên.
Nếu đáp ứng điều kiện, mức trợ cấp mất việc làm được tính theo công thức:
Trợ cấp mất việc làm = Thời gian làm việc tính hưởng trợ cấp × Tiền lương tháng tính hưởng trợ cấp.
Mỗi năm làm việc, người lao động được trợ cấp 1 tháng tiền lương, nhưng ít nhất phải bằng 2 tháng tiền lương.
Trong đó, thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế sau khi trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Tiền lương tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc.
Nghỉ việc, đừng bỏ qua các khoản mình được hưởng
Việc chấm dứt hợp đồng lao động không đồng nghĩa người lao động mất toàn bộ các quyền lợi liên quan. Tùy từng trường hợp, người lao động có thể được thanh toán tiền phép năm chưa nghỉ, tiền lương còn thiếu, trợ cấp thất nghiệp hoặc trợ cấp mất việc làm.
Do đó, trước và sau khi nghỉ việc, người lao động nên kiểm tra lại hợp đồng lao động, thời gian đóng bảo hiểm, số ngày phép còn lại và các khoản tiền doanh nghiệp chưa thanh toán để chủ động bảo vệ quyền lợi của mình.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
