Quyết định 40/2026/QĐ-TTg: bức tranh sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp niêm yết sau đợt rà soát mới
Quyết định 40/2026/QĐ-TTg quy định tỷ lệ sở hữu Nhà nước tối thiểu cho doanh nghiệp niêm yết, tạo cơ sở đánh giá khả năng tăng vốn hoặc thoái vốn. Nhiều doanh nghiệp hiện vượt mức tối thiểu, mở ra dư địa huy động vốn trong trung và dài hạn.
Quyết định 40/2026/QĐ-TTg: Bức tranh sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp niêm yết sau đợt rà soát mới
Quyết định 40/2026/QĐ-TTg ban hành ngày 5/8/2026, cùng với Công điện 52/CĐ-TTg ngày 7/8/2026, đã đặt ra khung tỷ lệ sở hữu Nhà nước tối thiểu theo từng nhóm ngành đối với các doanh nghiệp Nhà nước đang niêm yết. Dựa trên số liệu cập nhật đến ngày 8/8/2026, có thể phân loại các doanh nghiệp thành ba nhóm chính: nhóm bắt buộc Nhà nước nắm giữ từ 65% trở lên, nhóm Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 65%, và nhóm nằm ngoài ngành cốt lõi hoặc thuộc diện thoái vốn. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nhà đầu tư đánh giá khả năng tăng vốn, pha loãng sở hữu Nhà nước hoặc thoái vốn tại từng doanh nghiệp trong thời gian tới.
Nhóm ngân hàng và tài chính
Ở nhóm ngân hàng, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank, mã CTG) hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước ở mức 64,46%, thấp hơn một chút so với ngưỡng tối thiểu 65% theo quy định mới, đồng nghĩa cần có kế hoạch tăng vốn để nâng tỷ lệ này lên đúng chuẩn. Một phương án khả thi được nhắc đến là tăng sở hữu Nhà nước thông qua SCIC, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng sẽ trình kế hoạch hành động cụ thể lên Bộ Tài chính và Thủ tướng Chính phủ. Ngược lại, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank, mã VCB) đang có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 74,8%, cao hơn đáng kể so với ngưỡng 65%, tạo dư địa để triển khai kế hoạch chào bán riêng lẻ đã được thiết lập cho FY26 mà vẫn giữ quyền kiểm soát chi phối. Sở hữu Nhà nước tại VCB có thể tiếp tục bị pha loãng trong trung hạn nếu ngân hàng thực hiện thêm các đợt tăng vốn, dù Quyết định 40 khó tạo tác động tức thời trong ngắn hạn mà nhiều khả năng chỉ là tín hiệu cho thấy lập trường chính sách cởi mở hơn đối với đợt chào bán sắp tới. Tương tự, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV, mã BID) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 76,73%, cao hơn nhiều so với yêu cầu tối thiểu, cho phép linh hoạt triển khai kế hoạch chào bán riêng lẻ dự kiến trong giai đoạn FY26-27, với khả năng tiếp tục pha loãng sở hữu Nhà nước trong trung hạn.
Ở mảng bảo hiểm, Tập đoàn Bảo Việt (mã BVH) hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 68%, đáp ứng ngưỡng tối thiểu 65% với biên an toàn khá mỏng, khoảng 3 điểm phần trăm. Giới phân tích nhận định lĩnh vực này không bị ràng buộc bởi yêu cầu tỷ lệ sở hữu Nhà nước tối thiểu cụ thể, tạo cho Chính phủ dư địa linh hoạt hơn để giảm tỷ lệ sở hữu tại BVH theo thời gian; dù chưa có kỳ vọng thoái vốn ngay, khả năng giảm sở hữu Nhà nước trong trung hạn là có thể xảy ra, tiềm năng thông qua các đợt bán cổ phần của Bộ Tài chính và/hoặc SCIC.
Nhóm dầu khí, tiện ích, hóa chất và khai khoáng
Tổng Công ty Khí Việt Nam - CTCP (PV GAS, mã GAS) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước rất cao, đạt 95,76%, phản ánh vai trò hạ tầng độc quyền khí tự nhiên cần Nhà nước kiểm soát chặt. Doanh nghiệp có thể thoái tối đa khoảng 30,76% vốn để tăng thanh khoản và mở rộng, song mức bán 30% được cho là chưa đủ để nhà đầu tư chiến lược có quyền phủ quyết, khiến việc chào bán chiến lược trở nên khó khăn hơn. Đáng chú ý, yêu cầu tối thiểu 10% cổ phiếu tự do chuyển nhượng do các cổ đông không chi phối nắm giữ đang là vấn đề GAS cần giải quyết để duy trì tư cách công ty đại chúng nếu không có kế hoạch thoái vốn cụ thể trong thời gian tới.
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex, mã PLX) hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 75,87%, vượt biên mục tiêu 50-65% dành cho nhóm đầu mối xăng dầu chủ chốt có thị phần trên 30%. Doanh nghiệp có dư địa bán cổ phần chiến lược trong 5 năm tới; đề án thoái vốn dự kiến được trình trong khoảng 30 ngày tới sẽ định hướng cho giai đoạn 2026-2030, dù chưa có áp lực triển khai trong ngắn hạn.
Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn (mã BSR), đơn vị vận hành Nhà máy lọc dầu Dung Quất, có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 92,13%, tuân thủ ngưỡng tối thiểu 65% dành cho hạ tầng năng lượng chiến lược. Tương tự GAS, dư địa thoái vốn 30% tại BSR được cho là chưa đủ để hấp dẫn nhà đầu tư chiến lược, trong khi PVN gần đây có kế hoạch duy trì tỷ lệ sở hữu ở mức khoảng 90%; yêu cầu 10% cổ phiếu tự do chuyển nhượng cũng là thách thức để BSR giữ tư cách công ty đại chúng nếu chưa có kế hoạch thoái vốn cụ thể.
Ở nhóm phân bón và hóa chất, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (Đạm Phú Mỹ, mã DPM) hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 59,59%, thấp hơn ngưỡng 65% áp dụng cho ngành phân bón, đồng nghĩa PVN hoặc Nhà nước cần tăng thêm khoảng 5,41 điểm phần trăm; tuy nhiên hiện chưa ghi nhận kế hoạch cụ thể nào để tăng sở hữu tại DPM sau Quyết định này. Trong khi đó, Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (mã DCM) đã có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 75,56%, đáp ứng đầy đủ ngưỡng 65%, còn dư địa khoảng 10,56 điểm phần trăm để tăng vốn hoặc thoái vốn một phần mà không vi phạm ngưỡng bắt buộc, dù hiện chưa có kế hoạch thoái vốn nào được ghi nhận.
Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (mã POW) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 79,94%, thuộc nhóm ngành sản xuất điện được phép nắm giữ trong biên 50-65%, tạo khả năng thoái vốn để tăng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng. Giới phân tích cho rằng POW không mặc nhiên chịu ngưỡng sở hữu tối thiểu theo Quyết định 40/2026; việc giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước sẽ phụ thuộc vào đề án tái cơ cấu vốn được phê duyệt của PVN, và đến nay chưa có kế hoạch thoái vốn chính thức nào được công bố.
Ở nhóm sản xuất công nghiệp, Công ty CP Nhựa Tiền Phong (mã NTP) chỉ còn tỷ lệ sở hữu Nhà nước 37%, được xếp vào nhóm vốn Nhà nước ngoài ngành cốt lõi và vẫn nằm trong danh mục thoái vốn của SCIC; yếu tố then chốt để triển khai thành công việc thoái vốn trong thời gian tới sẽ là mức định giá. Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc TKV (mã KSV) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước rất cao, 98,06%, đáp ứng ngưỡng tối thiểu với dư địa khoảng 33,06 điểm phần trăm để điều chỉnh vốn. Điểm đáng lưu ý là tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng tại KSV hiện chỉ ở mức 2%; nếu không có động thái thoái vốn Nhà nước hoặc kế hoạch nâng tỷ lệ này lên trên 10% để đáp ứng điều kiện công ty đại chúng, KSV có thể đối diện nguy cơ bị hủy niêm yết bắt buộc.
Nhóm hàng không, vận tải và logistics
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam - CTCP (Vietnam Airlines, mã HVN) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 86,34%, thuộc nhóm hạ tầng hãng hàng không quốc gia buộc phải duy trì quyền kiểm soát chi phối của Nhà nước từ 65% trở lên. Doanh nghiệp có kế hoạch giảm sở hữu Nhà nước trong giai đoạn 2027-2028, tuy nhiên cả mức giảm mục tiêu lẫn lộ trình triển khai chi tiết đều chưa được quyết định, nên việc thoái vốn được nhìn nhận là câu chuyện dài hạn hơn là yếu tố xúc tác gần.
Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (mã ACV) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 95,41%, còn dư địa lớn khoảng 30,4 điểm phần trăm để chào bán cho nhà đầu tư tư nhân hoặc chiến lược khi chuyển niêm yết sang HOSE. ACV hiện đang định giá tài sản khu bay, dự kiến hoàn tất vào cuối FY26; sau đó Nhà nước sẽ góp các tài sản này vào ACV như phần vốn bổ sung, trong khi cổ đông ngoài Nhà nước có thể mua thêm cổ phần bằng tiền mặt. Phần góp bằng tiền của cổ đông ngoài Nhà nước cần lớn hơn đáng kể so với phần góp bằng tài sản của Nhà nước để pha loãng sở hữu Nhà nước và giúp ACV đáp ứng yêu cầu tối thiểu 10% cổ phiếu tự do chuyển nhượng; với các thủ tục cần thiết, thời điểm Nhà nước thoái vốn sớm nhất được dự kiến rơi vào năm 2027.
Công ty CP Cao su Đà Nẵng (mã DRC) hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 50,51%, không thuộc nhóm ngành yêu cầu Nhà nước nắm giữ từ 50% đến 100% vốn điều lệ và cũng không có tiêu chí ngoại lệ để cổ đông Nhà nước duy trì tỷ lệ sở hữu, nên khả năng cao DRC sẽ được đưa vào đề án thoái vốn giai đoạn 2026-2030, dự kiến sớm trình Chính phủ phê duyệt.
Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (mã VEA) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 88,47%, đáp ứng ngưỡng tối thiểu 65% dành cho lĩnh vực cơ khí chế tạo được xác định là ngành then chốt, còn dư địa khoảng 23,47 điểm phần trăm để điều chỉnh vốn mà không vi phạm ngưỡng bắt buộc.
Ở nhóm cảng biển, Công ty CP Cảng Sài Gòn (mã SGP) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước khoảng 65,45%, thông qua công ty mẹ VIMC, nên gần như không còn dư địa thoái vốn thêm; doanh nghiệp hiện không có kế hoạch thoái vốn hoặc giảm tỷ lệ sở hữu. Công ty mẹ là Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC, mã MVN) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước rất cao, 99,47%, với dư địa rất lớn khoảng 34,47 điểm phần trăm cho hợp tác chiến lược hoặc mở rộng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng; VIMC có kế hoạch tăng vốn điều lệ thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng, tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược, đồng thời giảm sở hữu Nhà nước về mức 65% và chuyển niêm yết từ UPCoM sang HOSE. Cảng Hải Phòng (mã PHP), cũng là công ty con của VIMC với tỷ lệ sở hữu 92,56%, còn dư địa thoái vốn khoảng 27,56 điểm phần trăm, đặc biệt để đáp ứng điều kiện công ty đại chúng về ngưỡng cổ phiếu tự do chuyển nhượng.
Nhóm hàng tiêu dùng
Tổng Công ty CP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco, mã SAB) và Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk, mã VNM) đều có tỷ lệ sở hữu Nhà nước ở mức 36%, thuộc nhóm ngành tiêu dùng không thiết yếu, nằm ngoài các nhóm chiến lược theo Quyết định 40 và được xem là ứng viên cho việc SCIC tiếp tục thoái vốn hoặc thoái toàn bộ phần vốn còn lại. Do tỷ lệ sở hữu Nhà nước tại cả hai doanh nghiệp này đã dưới 50% từ trước, Quyết định 40 không đặt ra yêu cầu bắt buộc phải thoái vốn thêm.
Nhóm bất động sản và khu công nghiệp
Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp (Becamex IDC, mã BCM) hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước rất cao, 95,44%, thuộc nhóm hạ tầng khu công nghiệp với biên mục tiêu 50-65%, còn dư địa đáng kể khoảng 30,44 điểm phần trăm để giảm sở hữu Nhà nước hoặc huy động vốn. Doanh nghiệp có lộ trình giảm sở hữu Nhà nước từ 95,4% về trên 65% trong giai đoạn 2026-2030 thông qua phát hành cổ phiếu ra công chúng, nhằm khôi phục tuân thủ yêu cầu tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng tối thiểu, đồng thời huy động vốn cho danh mục dự án khu công nghiệp, đô thị và hạ tầng quy mô lớn. Dù lộ trình triển khai cụ thể chưa được xác nhận, việc giảm sở hữu Nhà nước tại BCM được đánh giá ngày càng khả thi và có thể trở thành yếu tố tích cực mang tính cấu trúc, được hỗ trợ bởi khung pháp lý vừa ban hành.
Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (mã GVR) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 96,77%, tuân thủ ngưỡng tối thiểu 65% dành cho hạ tầng nông nghiệp và đất đai quy mô lớn. GVR thuộc diện đề án cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước, tuy nhiên công ty chưa công bố lộ trình hay thời gian triển khai cụ thể.
Nhóm công nghệ và các doanh nghiệp liên quan Viettel
Công ty CP FPT (mã FPT) hiện chỉ còn tỷ lệ sở hữu Nhà nước 5,7%, thuộc nhóm vốn Nhà nước ngoài ngành cốt lõi và vẫn nằm trong danh mục thoái vốn của SCIC; tương tự nhóm hàng tiêu dùng, yếu tố then chốt để triển khai thoái vốn thành công trong thời gian tới sẽ là mức định giá.
Công ty CP Viễn thông FPT (mã FOX) có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 50,17%, do Bộ Công an quản lý và được xem là quan trọng đối với an ninh - quốc phòng cũng như việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, dù không thuộc nhóm phân loại chính thức theo Quyết định 40. Bộ Công an nhiều khả năng sẽ chưa thoái vốn tại FOX do mới tiếp nhận phần vốn này từ SCIC vào tháng 7/2025; tuy nhiên, để duy trì tư cách công ty đại chúng, FOX sẽ cần giải pháp nâng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng lên trên 10%.
Tổng Công ty CP Đầu tư Quốc tế Viettel (mã VGI), Tổng Công ty CP Công trình Viettel (mã CTR) và Tổng Công ty CP Bưu chính Viettel (mã VTP), đều thuộc Tập đoàn Viettel/Bộ Quốc phòng, được xác định nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Quyết định 40. VGI hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 99%, và có thể thoái thêm vốn để đáp ứng yêu cầu 10% cổ phiếu tự do chuyển nhượng nhằm duy trì tư cách công ty đại chúng. CTR có tỷ lệ sở hữu 65,7%, còn VTP có tỷ lệ sở hữu 60,84%; đối với cả hai doanh nghiệp này, Viettel hiện chưa có kế hoạch thoái vốn nào được công bố.
Nhìn chung, Quyết định 40/2026/QĐ-TTg cùng Công điện 52/CĐ-TTg đã tạo ra một khung tham chiếu rõ ràng hơn để thị trường đánh giá khả năng tăng vốn, pha loãng hoặc thoái vốn Nhà nước tại từng doanh nghiệp niêm yết theo từng nhóm ngành. Với nhiều doanh nghiệp đã vượt xa ngưỡng sở hữu Nhà nước tối thiểu, dư địa huy động vốn từ nhà đầu tư bên ngoài, kể cả nhà đầu tư chiến lược, là tương đối lớn trong trung và dài hạn, dù phần lớn các kế hoạch cụ thể vẫn cần thời gian để được phê duyệt và triển khai trên thực tế.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
