Kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt
Kinh tế Việt Nam 7 tháng đầu năm 2026 duy trì tăng trưởng nhờ lạm phát hạ nhiệt, sản xuất công nghiệp cải thiện, FDI tăng mạnh. Mặc dù tổng mức bán lẻ và cán cân thương mại cho thấy áp lực, nhưng đầu tư công và ngân sách nhà nước là trụ đỡ quan trọng.
Bức tranh tăng trưởng của khu vực sản xuất trong 7 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, một phần phản ánh áp lực lạm phát đã yếu đi so với giai đoạn trước. Dù chi phí nhiên liệu và dầu vẫn neo ở mức cao, đà giảm của giá dầu trong thời gian gần đây đã giúp doanh nghiệp phần nào tiết giảm chi phí. Nhờ đó, tốc độ tăng của cả chi phí đầu vào lẫn giá bán đầu ra đã chậm lại, xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9/2025. Diễn biến này phù hợp với xu hướng lạm phát khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2026 quay đầu giảm 0,12% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng trong nước giảm 4,35%.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục cải thiện
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7 ước tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng, IIP tăng 11,4% so với cùng kỳ, là mức tăng cao nhất của giai đoạn này trong nhiều năm trở lại đây. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất do S&P Global công bố đạt 52,9 điểm trong tháng 7, tăng từ mức 51,8 điểm của tháng trước, cho thấy sức khỏe khu vực sản xuất tiếp tục cải thiện. Đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng mạnh nhất kể từ tháng 7/2024, phản ánh tín hiệu tích cực từ nhu cầu thị trường quốc tế. Song song với đà tăng đơn hàng, các nhà sản xuất cũng đẩy mạnh mua nguyên vật liệu đầu vào trong tháng 7 với tốc độ tăng mạnh nhất trong gần bốn năm rưỡi, một phần do doanh nghiệp chủ động tích trữ nguyên liệu cho các đơn hàng tương lai. Tuy vậy, tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng vẫn tiếp diễn và tiếp tục gây áp lực lên hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lạm phát hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn hiện hữu
Nhóm giao thông là yếu tố kéo CPI tháng 7 giảm mạnh nhất, với mức giảm 2,02% do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh giảm theo giá thế giới. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống cũng giảm nhẹ nhờ nguồn cung nông sản dồi dào, dù dịch vụ ăn uống ngoài gia đình nhích nhẹ theo nhu cầu tiêu dùng mùa hè. Tính chung 7 tháng, CPI bình quân tăng 4,39% so với cùng kỳ, tiệm cận mục tiêu điều hành cả năm là 5%, cho thấy áp lực lạm phát vẫn còn hiện hữu. Động lực chính đẩy CPI 7 tháng lên cao đến từ ba nhóm ngành cốt lõi là nhà ở - điện nước - vật liệu xây dựng, hàng ăn và dịch vụ ăn uống, cùng nhóm giao thông. Lạm phát cơ bản bình quân 7 tháng tăng 4,19%, thấp hơn CPI bình quân chung, phản ánh việc loại trừ các yếu tố biến động mạnh như giá năng lượng và thực phẩm tươi sống. Áp lực lạm phát nửa cuối năm được dự báo tiếp tục hiện hữu khi Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, mở rộng tín dụng và thực hiện lộ trình tính đúng, tính đủ giá một số dịch vụ công, song song với điều chỉnh lương cơ sở từ ngày 1/7.
Sức cầu tiêu dùng cải thiện nhưng còn bị chi phối bởi yếu tố giá
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2026 đạt 669,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng, tổng mức bán lẻ theo giá hiện hành ước đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng thực chỉ đạt 7,5%. Điều này cho thấy sức cầu của nền kinh tế tuy có cải thiện song chưa phản ánh sự hồi phục rõ nét, và các chính sách kích cầu tiêu dùng, miễn giảm thuế cùng việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh sẽ là những yếu tố hỗ trợ quan trọng trong 5 tháng cuối năm.
Cán cân thương mại duy trì trạng thái nhập siêu
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa lũy kế 7 tháng đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu tăng 21,7% trong khi nhập khẩu tăng nhanh hơn với mức 34,8%, khiến cán cân thương mại chuyển sang trạng thái nhập siêu 20,52 tỷ USD. Khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chủ chốt trong xuất khẩu khi đóng góp 255,89 tỷ USD, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 26,4%, trong khi khu vực kinh tế trong nước đóng góp 63,64 tỷ USD, tăng 5,8%. Về nhập khẩu, khu vực FDI đạt 247,91 tỷ USD, tăng 39,2%, còn khu vực trong nước đạt 92,14 tỷ USD, tăng 24,1%. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 104,7 tỷ USD, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 138,6 tỷ USD.
Nếu loại trừ giá trị xuất nhập khẩu của nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện, Việt Nam thực chất xuất siêu hơn 30 tỷ USD trong 7 tháng. Nguyên nhân chính dẫn đến trạng thái nhập siêu chung nằm ở nhóm hàng điện tử, máy tính và linh kiện, khi lượng nhập khẩu tăng mạnh chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất phục vụ thị trường thế giới hơn là tiêu dùng nội địa, trong bối cảnh doanh nghiệp FDI có thể đang tăng cường nhập khẩu để dự trữ trước xu hướng tăng giá của chip và linh kiện, cũng như trước những bất định của thương mại toàn cầu. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của hai nhóm hàng chủ lực dệt may và da giày trong 7 tháng chỉ đạt tương ứng 1,1% và 0,7%, thấp hơn đáng kể so với tốc độ nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, cho thấy hai mặt hàng xuất khẩu chiến lược này đang có dấu hiệu chững lại trong bối cảnh chi phí nhân công gia tăng.
FDI tiếp tục là điểm sáng của bức tranh vĩ mô
Tính đến ngày 31/7, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ, với động lực chính đến từ vốn đăng ký cấp mới. Cả nước có 2.429 dự án được cấp phép mới với tổng vốn 21,05 tỷ USD, quy mô vốn bình quân mỗi dự án cao gấp 2,1 lần cùng kỳ. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu khi thu hút 11,58 tỷ USD, chiếm 55% tổng vốn đăng ký cấp mới, tiếp theo là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí và nước. Singapore là đối tác đầu tư lớn nhất với 7,5 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc, Hồng Kông và Trung Quốc. Vốn FDI thực hiện trong 7 tháng đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất của cùng kỳ trong 5 năm trở lại đây, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh Việt Nam duy trì được lợi thế từ chiến lược dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc.
Đầu tư công và ngân sách nhà nước là trụ đỡ quan trọng
Đến hết ngày 31/7, cả nước giải ngân 425.312 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn gần 86,8 nghìn tỷ đồng so với cùng kỳ về giá trị tuyệt đối. Với hơn một nửa kế hoạch vốn năm 2026 vẫn còn phải giải ngân trong 5 tháng cuối năm, áp lực hoàn thành mục tiêu giải ngân toàn bộ kế hoạch là không nhỏ, song kết quả đạt được trong 7 tháng cho thấy dư địa tăng tốc vẫn còn nếu các điểm nghẽn về mặt bằng, nguồn vật liệu và thủ tục đầu tư tiếp tục được tháo gỡ. Về thu chi ngân sách, tổng thu ngân sách nhà nước 7 tháng ước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ, trong khi tổng chi ước đạt 1.364,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7,7%. Cán cân ngân sách đang nghiêng về phía bội thu, tạo dư địa để điều tiết nguồn vốn nhàn rỗi sang hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng.
Thuế quan Mục 301 và triển vọng xuất khẩu
Từ ngày 24/7, mức thuế theo Mục 301 liên quan đến lao động cưỡng bức đã chính thức có hiệu lực đối với 60 đối tác thương mại, thay thế mức thuế tạm thời trước đó. Việt Nam cùng Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc thuộc nhóm chịu mức thuế 12,5%. Tuy nhiên, Việt Nam đã ban hành quy định nghiêm cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức theo Nghị định số 292/2026/NĐ-CP, đáp ứng yêu cầu của Cơ quan đại diện Thương mại Mỹ, mở ra khả năng Mỹ điều chỉnh mức thuế áp dụng với Việt Nam về 10% trong thời gian tới thông qua thỏa thuận thương mại có đi có lại. Giới phân tích đánh giá mức độ ảnh hưởng lên kinh tế Việt Nam trong kịch bản này là không cao, do chênh lệch thuế so với các đối thủ cạnh tranh không lớn, sức cạnh tranh của Việt Nam chủ yếu dựa trên năng suất và chuỗi cung ứng chứ không phải chênh lệch thuế, và phần lớn tác động thuế cuối cùng được chia sẻ giữa nhà nhập khẩu, nhà bán lẻ và người tiêu dùng Mỹ. Rủi ro cần tiếp tục theo dõi nằm ở khả năng Mỹ mở rộng điều tra theo Mục 232 cũng như các cuộc điều tra về dư thừa công suất và sở hữu trí tuệ nhắm vào nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Nhìn chung, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đang bám sát mục tiêu Chính phủ đề ra, ngoại trừ tiến độ giải ngân đầu tư công vẫn còn chậm dù đã có cải thiện. Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số cho cả năm, các động lực quan trọng như xuất khẩu, tiêu dùng nội địa và đầu tư công cần có sự bứt tốc mạnh mẽ hơn trong nửa cuối năm, trong bối cảnh môi trường quốc tế còn nhiều thách thức và ổn định kinh tế vĩ mô vẫn là nhiệm vụ then chốt.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
