MSB lợi nhuận tăng mạnh nhưng bộ đệm nợ xấu đang mỏng đi
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) ghi nhận quý 3/2026 khá tích cực khi lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt hơn 2.000 tỷ đồng, tăng 27% so với cùng kỳ và 32% so với quý trước. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở mức tăng lợi nhuận, mà là biên lãi ròng đã phục hồi rõ rệt sau giai đoạn chịu áp lực. Tuy nhiên, phía sau con số lợi nhuận tốt là nợ xấu hình thành mới tăng nhanh và bộ đệm dự phòng tiếp tục mỏng đi. Đây mới là biến số quyết định MSB có duy trì được đà tăng trưởng trong những quý tới hay không.
Động lực lớn nhất trong quý 3 đến từ hoạt động cho vay cốt lõi. Thu nhập lãi thuần đạt 3.422 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ và 14% so với quý trước. Biên lãi ròng hợp nhất tăng thêm 0,35 điểm phần trăm so với quý trước lên 3,37%, trong khi tại ngân hàng mẹ tăng 0,37 điểm phần trăm lên 3,07%. Sự cải thiện này đến từ việc MSB tăng tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân, đồng thời thu hồi một phần nợ xấu nội bảng giúp ghi nhận trở lại thu nhập lãi. Lợi suất tài sản vì vậy tăng nhanh hơn chi phí vốn.
Cơ cấu tín dụng cũng đang thay đổi theo hướng đáng chú ý. Tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng mẹ tăng 16% từ đầu năm và gần 28% so với cùng kỳ, trong khi dư nợ doanh nghiệp chỉ tăng hơn 4% so với cùng kỳ. MSB đồng thời thu hẹp cho vay kinh doanh bất động sản và giáo dục, chuyển vốn sang thương mại và xây dựng. Đây là yếu tố hỗ trợ lợi suất cho vay, nhưng cũng đồng nghĩa ngân hàng đang chủ động đánh đổi một phần chi phí vốn để theo đuổi các phân khúc có mức sinh lời cao hơn.
TNEX là một động lực khác đang tăng tốc rất nhanh. Dư nợ của đơn vị này vượt 10.000 tỷ đồng, tăng 61% chỉ trong một quý và hơn 163% từ đầu năm. Lợi nhuận trước thuế quý 3 đạt 167 tỷ đồng, tăng 44% so với quý trước; lũy kế 9 tháng đạt 422 tỷ đồng, gần gấp 5 lần cùng kỳ. Tuy nhiên, tốc độ mở rộng tín dụng quá nhanh khiến biên lãi ròng của TNEX giảm mạnh xuống 15,9%. Tỷ lệ nợ xấu giảm về 8% cũng cần được nhìn thận trọng vì một phần đến từ việc mẫu số dư nợ tăng rất mạnh.
Vấn đề là chất lượng tài sản chưa cải thiện tương ứng với lợi nhuận.
Nợ xấu hình thành ròng trong quý 3 lên tới 926 tỷ đồng, tăng 55% so với quý trước. Tỷ lệ nợ xấu hợp nhất tăng lên 2,7%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống chỉ còn 47,2%. Đáng chú ý hơn, nợ nhóm 2 tại ngân hàng mẹ tăng khoảng 30% chỉ trong một quý. Trong khi đó, chi phí dự phòng quý 3 lại giảm 20% so với quý trước và 13% so với cùng kỳ. Điều này giúp lợi nhuận hiện tại đẹp hơn, nhưng đồng thời làm bộ đệm bảo vệ trước rủi ro tín dụng mỏng đi. Nếu một phần nợ nhóm 2 chuyển thành nợ xấu, MSB có thể phải tăng trích lập trong những quý sau.
Đó cũng là lý do chưa nên nhìn mức tăng 27% lợi nhuận quý 3 như một tín hiệu cho thấy chất lượng tăng trưởng đã hoàn toàn cải thiện. Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận trước thuế đạt 5.440 tỷ đồng, tăng 14% và hoàn thành khoảng 70% kỳ vọng cả năm. Thu nhập lãi thuần đã hoàn thành 79%, cho thấy hoạt động tín dụng cốt lõi đang đi đúng hướng. Ngược lại, thu nhập ngoài lãi mới đạt 42%, trong đó thu nhập phí dịch vụ dù tăng mạnh trong quý 3 nhưng lũy kế 9 tháng vẫn giảm 24% so với cùng kỳ.
Trong quý 4, lợi nhuận trước thuế hợp nhất được kỳ vọng khoảng 2.200 tỷ đồng, tăng khoảng 7% so với quý trước. Một phần đáng kể của kỳ vọng này đến từ khả năng MSB ghi nhận khoảng 1.000 tỷ đồng thu nhập từ hoạt động bán nợ. Nếu khoản thu này xuất hiện, lợi nhuận năm 2026 có cơ sở tiếp tục tăng trưởng, nhưng chất lượng lợi nhuận cần được nhìn tách biệt với hoạt động kinh doanh cốt lõi vì đây không phải nguồn thu có thể mặc định lặp lại đều đặn. Đồng thời, chi phí dự phòng có khả năng tăng trở lại do áp lực nợ xấu.
Một áp lực khác là biên lãi ròng khó tiếp tục mở rộng mạnh như quý 3. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn đã giảm xuống 21,7%, trong khi MSB đang phải tăng huy động tiền gửi có kỳ hạn và phát hành giấy tờ có giá để đáp ứng nhu cầu tín dụng cuối năm. Vì vậy, chi phí vốn có thể tiếp tục đi lên, hạn chế dư địa cải thiện biên lãi.
Nhìn tổng thể, câu chuyện của MSB trong 1–2 quý tới không còn nằm ở việc lợi nhuận có tăng hay không, mà nằm ở chất lượng của mức tăng đó. Tín dụng bán lẻ, TNEX và sự phục hồi của thu nhập dịch vụ vẫn là những động lực tích cực. Nhưng nợ xấu hình thành mới, nợ nhóm 2, tỷ lệ bao phủ thấp và áp lực chi phí vốn có thể khiến phần lợi nhuận tăng thêm phải được dùng nhiều hơn cho dự phòng.
Nếu MSB kiểm soát được nợ xấu trong khi duy trì biên lãi ở vùng hiện tại, đà tăng trưởng lợi nhuận vẫn có cơ sở kéo dài. Ngược lại, nếu nợ nhóm 2 tiếp tục chuyển thành nợ xấu, thị trường có thể phải đánh giá lại chất lượng lợi nhuận dù con số lợi nhuận tuyệt đối vẫn tăng.
Nhà đầu tư muốn tham khảo vùng giá tích sản và giá mục tiêu của MSB có thể vào trang tiểu sử để xem phân tích chi tiết.
Chia sẻ thông tin hữu ích