Đậu Thế Vũ

Uy tín của các ngân hàng trung ương đang suy giảm

Chuyên mục: Tin quốc tế
Uy tín của các ngân hàng trung ương đang suy giảm

 Trong bài viết đăng tải trên trang mạng của hãng Bloomberg, nhà báo Enda Curran nhận định, năm 2021, ngay cả khi các ngân hàng trung ương phát hiện ra rằng họ đã sai lầm trong quan điểm về lạm phát, họ vẫn tiếp tục đưa ra các hướng dẫn chính sách theo quan điểm đó.

Nguyên nhân có thể là do lo ngại sự “chuyển hướng” sẽ tạo ra thiệt hại lớn hơn đến uy tín của họ, đồng thời làm rung chuyển thị trường và hủy hoại sự phục hồi kinh tế sau đại dịch.

Tuy nhiên, vào ngày 15/6, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã bất ngờ tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm lần đầu tiên kể từ năm 1994. Động thái này xuất hiện chỉ vài tuần sau khi Chủ tịch Jerome Powell và Hội đồng quản trị của Fed liên tục đưa ra các động thái báo hiệu sẽ chỉ thay đổi 0,5 điểm phần trăm lãi suất.

Đây là vụ việc mới nhất trong hàng loạt các cú sốc mà Fed đã tạo ra gần đây, từ việc coi lạm phát cao là “nhất thời” vào năm ngoái cho đến việc thu hẹp thời hạn chương trình mua trái phiếu chính phủ, đẩy nhanh dòng chảy của danh mục đầu tư trái phiếu.

Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde mới đây cũng đã trở nên quyết liệt hơn so với những gì bà từng thể hiện và Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA, ngân hàng trung ương) cũng nằm trong số những cơ quan tăng lãi suất nhanh hơn so với tuyên bố trước đó.

Giới đầu tư đang phải xem xét lại về kỳ vọng thị trường, khi xuất hiện nhiều lo ngại rằng “cuộc đua” để bù đắp cho những sai lầm trong quá khứ sẽ làm tăng nguy cơ suy thoái và chứng khoán toàn cầu đã bước vào trạng thái “thị trường giá xuống”.

Ngày 15/6, ECB tuyên bố họ sẽ thực hiện các bước đi mới để ngăn chặn sự gia tăng chi phí đi vay hiện đang diễn ra tại một số quốc gia châu Âu mắc nợ cao. Thông báo được đưa ra sau cuộc họp bất ngờ của các nhà hoạch định chính sách ngân hàng "để thảo luận về các điều kiện thị trường hiện tại", theo như diễn giải của một phát ngôn viên của ECB.

Trong khi đó, cuộc đối đầu giữa các nhà giao dịch trái phiếu và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đã nhanh chóng leo thang khi BoJ cố gắng thuyết phục thị trường rằng chính sách tiền tệ siêu lỏng mà cơ quan này áp dụng là bền vững, với hợp đồng trái phiếu kỳ hạn 10 năm đã giảm mạnh nhất kể từ năm 2013 vào ngày 15/6.

Những sai lầm của các ngân hàng trung ương đã làm giảm danh tiếng của họ, sau sự thành công trong việc đảm bảo ổn định giá cả và ngăn ngừa vòng ảnh hưởng của vòng xoáy lạm phát tác động đến thu nhập của các tầng lớp trung lưu trong những năm 1970. Việc đánh mất uy tín có nghĩa là sẽ cần phải có những hành động chính sách lớn hơn nữa để giảm bớt áp lực về giá.

Tình thế “tiến thoái lưỡng nan”

Sayuri Shirai, cựu thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản, hiện là Giáo sư Đại học Keio, cho biết: “Các ngân hàng trung ương hiện đang ở trong tình thế 'tiến thoái lưỡng nan'. Để khôi phục niềm tin, ngân hàng trung ương cần tăng lãi suất đủ để giảm lạm phát. Tuy nhiên, hành động này rất có thể sẽ dẫn đến nguy cơ gây cản trở quá trình phục hồi kinh tế”

Các hộ gia đình và công ty vẫn tin rằng ngân hàng trung ương sẽ thành công trong việc đáp ứng những mục tiêu lạm phát đã đề ra, do đó theo thời gian sẽ giúp giảm áp lực giá cả. Nhiều hộ gia đình thậm chí có thể trì hoãn một số giao dịch mua hàng vì tin rằng giá cả sẽ hạ xuống trong thời gian tới. Và nhiều người lao động bỏ qua khả năng đưa ra các yêu cầu về bồi thường chi phí sinh hoạt, tại các cuộc đàm phán về tiền lương.

Các nhà hoạch định chính sách, cho tới gần đây, vẫn nhấn mạnh rằng kỳ vọng lạm phát dài hạn đã được kiềm chế - một minh chứng cho độ tin cậy của họ. Vào tháng 3/2022, Chủ tịch Fed tại Chicago Charles Evans giải thích rằng lạm phát hiện nay không giống những năm 1980, vì “chính sách tiền tệ quá thuận lợi” trong những năm 1960 và 1970 đã góp phần hình thành kỳ vọng lạm phát dài hạn.

Tuy nhiên vào tuần trước, thước đo kỳ vọng giá dài hạn của Đại học Michigan đã cho thấy có một “vết nứt” lớn trong tuyên bố mà ông Evans đưa ra, đó là sự nhảy vọt của giá dầu thế giới lên mức cao nhất, tính từ năm 2008.

Không thể đổ lỗi cho Fed, ECB và các đồng nghiệp vì đã không lường trước được sự tăng giá “phi mã”, bắt nguồn từ cuộc xung đột của Nga và Ukraine và những thách thức chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, một số nhà phê bình kinh tế vẫn cho rằng việc các nhà điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục mở rộng bản cân đối kế toán của họ trong năm 2021 và duy trì tỷ lệ lãi suất gần như bằng 0, ngay cả khi lạm phát đã tăng vọt và các nền kinh tế bắt đầu phục hồi từ “vực thẳm” của đại dịch, đã “gieo mầm” cho tình trạng hỗn loạn hiện nay.

Chuyên gia Stephen Jen, người điều hành Quỹ Eurizon SLJ Capital, một quỹ đầu cơ và đồng thời là công ty tư vấn đầu tư có trụ sở tại London (Anh), cho biết: “Tôi tin rằng điều này sẽ giáng một đòn mạnh vào uy tín của các ngân hàng trung ương - khi các nhà đầu tư nhận ra rằng lạm phát mà họ phải đối mặt là do con người gây ra, và các ngân hàng trung ương có trách nhiệm trong tình huống đó”.

“Niềm tin” đối với các ngân hàng trung ương đã suy giảm

Cho tới tháng 11/2021, ông Powell mới từ bỏ tuyên bố cho rằng lạm phát là “nhất thời”. Tháng trước, Chủ tịch Fed đã thừa nhận: “Với nhận thức muộn màng sau đó, vâng, có lẽ sẽ tốt hơn nếu tăng lãi suất sớm hơn”.

Tháng 3/2022, Cựu Bộ trưởng Tài chính Lawrence Summers đã công khai chỉ trích Fed lặp lại những sai lầm chính sách trong giai đoạn 1960-1970 khi tuyên bố rằng lạm phát chỉ là tạm thời và chỉ xảy ra trong một vài lĩnh vực, ngay cả khi tình trạng thiếu lao động trở nên nghiêm trọng và phổ biến chưa từng có.

Và cho tới đầu tuần này, các quan chức Fed đã hạ thấp dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2022 của Mỹ xuống còn 1,7%. Cơ quan này cũng hé lộ về việc sẽ tiếp tục tăng lãi suất với mục tiêu đẩy lạm phát xuống khoảng 5,2% vào cuối năm nay, mặc dù con số này vẫn cao hơn so với dự báo trước đó mà các chuyên gia kinh tế và thị trường đưa ra.

Tuy nhiên, Mỹ không phải quốc gia duy nhất đối mặt với thách thức uy tín. Chủ tịch ECB Christine Lagarde và các đồng nghiệp tại ngân hàng hiện đang trong quá trình tính toán để tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất vào tháng Bảy và thêm 0,5 điểm phần trăm khác vào tháng Chín.

Kế hoạch này được đưa ra sau khi bà Lagarde tuyên bố vào tháng 12/2021 rằng sẽ không có bất kỳ sự thắt chặt tiền tệ nào trong năm nay.

Vào tuần trước, bà Lagarde cho biết tất cả các tổ chức quốc tế, tất cả các nhà dự báo có uy tín đã thực sự mắc cùng một sai lầm khi đánh giá thấp cuộc khủng hoảng.

Tương tự, Thống đốc RBA Philip Lowe vào tháng 5/2022 cũng đã thừa nhận “nhầm lẫn” trong các hướng dẫn chính sách trước đây và tuyên bố việc duy trì lãi suất ở mức thấp kỷ lục cho đến năm 2024 là một sai lầm.

Tại các thị trường mới nổi, tình huống diễn ra giống một bức tranh “hỗn hợp”. Một số quốc gia như Brazil đã tiến hành tăng lãi suất nhanh hơn nhiều so với các quốc gia phát triển khác. Trong khi, Trung Quốc tiếp tục tập trung vào cung cấp tài chính và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trong bối cảnh kinh tế suy thoái.

Cho đến tháng 4/2022, Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI, ngân hàng trung ương) vẫn phủ nhận khả năng sẽ thay đổi lãi suất bất chấp lạm phát tăng. Tuy nhiên sau đó ngân hàng này lại bất ngờ tăng lãi suất cơ bản trong hai tháng liên tiếp. Đến nay, lạm phát của Ấn Độ vẫn nằm ngoài mục tiêu an toàn của ngân hàng trung ương.

Đã có rất nhiều cuộc thăm dò dư luận cho thấy bằng chứng về sự mất niềm tin của công chúng đối với các ngân hàng trung ương.

Một cuộc khảo sát của công ty chuyên nghiên cứu về lĩnh vực tiếp thị và quảng cáo Gallup được công bố vào tháng Năm cho thấy chỉ 43% trong số những người được hỏi có mức độ tin tưởng “tuyệt đối” hoặc “hợp lý” đối với những quyết sách mà Chủ tịch Powell đã đưa ra cho nền kinh tế Mỹ. Con số tín nhiệm này chưa phải là thấp nhất trong lịch sử các lần thăm dò dư luạn đối với uy tín của các Chủ tịch Fed gần đây, nhưng rõ ràng đây không phải là con số cao quá bán.

Tương tự, một cuộc khảo sát hàng quý của Ngân hàng trung ương Anh (BoE) cho thấy, lần đầu tiên trong lịch sử, người dân Anh đã tỏ ra không hài lòng với hiệu quả hoạt động của BOE liên quan tới vấn đề kiểm soát giá cả sinh hoạt.

Thống đốc BoJ Haruhiko Kuroda đã chứng kiến uy tín sụt giảm sau khi nói rằng người tiêu dùng Nhật Bản đã trở nên khoan dung hơn với giá cả tăng cao. Một cuộc khảo sát do Kyodo News thực hiện và công bố vào ngày 13/6 cho thấy 59% số người được hỏi cho rằng ông Kuroda đã không còn phù hợp với vị trí lãnh đạo BoJ.

Stanley Druckenmiller, nhà điều hành Văn phòng Gia đình Duquesne - công ty tư vấn và quản lý đầu tư nổi tiếng của Mỹ, hồi đầu tháng Sáu đã cảnh báo rằng vì chính sách của ngân hàng trung ương một năm trước là hoàn toàn không phù hợp, nên việc các nhà đầu tư mất tiền là điều không thể tránh khỏi.

Chủ doanh nghiệp, ông Druckenmiller, nhận định: “Nếu bạn dự đoán sẽ có một cuộc hạ cánh nhẹ nhàng, thì điều đó là hoàn toàn ngược lại với lịch sử hàng thập kỷ vừa qua”.

Từ khóa (bấm vào mỗi từ khóa để xem bài cùng chủ đề)

Bạn có muốn trở thành chuyên gia trên 24HMoney? Hãy liên hệ với chúng tôi để cùng chia sẻ và lan tỏa.

Ban nội dung SĐT/Zalo: 0981.935.283

Hòm thư: phuongpt@24h.com.vn
1 Yêu thích
Thích Đã thích Thích
Bình luận
Chia sẻ
Bài viết mới từ chuyên gia
Tin liên quan
Tin mới cùng chuyên mục