menu
Thị trường lao động trẻ tại Việt Nam: Thách thức và giải pháp trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Dương Đình Dũng Pro
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Thị trường lao động trẻ tại Việt Nam: Thách thức và giải pháp trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Bài viết phân tích thị trường lao động trẻ Việt Nam giai đoạn 2023-2025, nhấn mạnh tỷ lệ thất nghiệp cao và nhóm thanh niên NEET. Đề xuất giải pháp phát triển giáo dục, kỹ năng số và kết nối cung cầu lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ.

TÓM TẮT: Bài viết phân tích trạng thái dựa trên trường lao động trẻ Việt Nam giai đoạn 2023–2025 trên số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính chính), từ đó nhận ra các phương thức cơ bản đặt ra trong bối cảnh đất nước bước vào "kỷ nguyên tăng mình của dân tộc" – giai đoạn phát triển đòi hỏi chất lượng nhân lực trẻ phải bắt kịp yêu cầu của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Kết quả cho thấy tỷ lệ thất nghiệp thanh niên (15–24 tuổi) tiếp tục duy trì ở mức cao, dao động 7,9–9,0% theo từng quý trong năm 2025, cao gấp 3–4 lần tỷ lệ thất bại chung của năng lượng lao động; đồng thời tồn tại một bộ phận đáng kể thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo (nhóm NEET). Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhóm về giáo dục – đào tạo, kết nối cung – cầu lao động, phát triển kỹ năng số và chính sách sinh thúc đẩy nguồn lực con người trẻ – nguồn lực được xác định là “quyết định nhất” cho hành trình phát triển đất nước trong giai đoạn tới.
Từ khóa: thị trường lao động trẻ; thanh niên; công việc; kỷ nguyên vươn lên của mình; chuyển đổi số; Việt Nam.
Thị trường lao động trẻ tại Việt Nam: Thách thức và giải pháp trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Lao động trẻ – nhóm dân số trong độ tuổi thanh niên từ 15 đến 24 (hoặc 15–30 theo một số cách tiếp cận chính sách của Việt Nam) – luôn được xem là bộ phận năng động nhất, có khả năng đáp ứng nhanh nhất với sự thay đổi công nghệ và cơ sở kinh tế. Trong bối cảnh Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành thành viên đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và văn hóa, phát biểu chỉ đạo gần đây xác định đất nước bước vào "kỷ nguyên nâng mình của dân tộc" gắn kết với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo, thì chất lượng và hiệu quả sử dụng lao động trẻ trở thành một trong những điều kiện tiên quyết quyết định thành công của tiêu điểm phát triển đất nước.

Tuy nhiên, thực tế thị trường lao động Việt Nam những năm gần đây đã tìm thấy một nghịch lý: trong khi tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước duy trì ở mức độ thấp (khoảng 2.2%), tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên lại cao gấp nhiều lần và có xu hướng tăng theo từng quý. Cùng với đó là hiện tượng "vừa vừa thiếu" lao động: thừa lao động phổ thông, thiếu lao động có kỹ năng đáp ứng yêu cầu công nghệ cao. Đây chính là khoảng cách cần được nhận diện và thu hẹp nếu Việt Nam muốn phát huy được lợi thế "dân số vàng" trước khi bước vào giai đoạn già hóa dân số.

Bài viết này nhằm mục đích ba mục tiêu: (i) hệ thống hóa thực hiện thị trường lao động trẻ Việt Nam dựa trên số liệu thống kê cập nhật chính thức đến năm 2025; (ii) phân tích các công thức thiết lập đối với nhóm lao động trẻ trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; (iii) đề xuất giải pháp nhóm chính sách phát triển thị trường lao động trẻ, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thị trường lao động trẻ được tiếp cận theo khung lý thuyết cung – cầu lao động, trong đó cung lao động trẻ chịu ảnh hưởng bởi quy mô dân số trong độ tuổi, chất lượng giáo dục – đào tạo, còn cầu lao động trẻ chịu ảnh hưởng bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế trưởng, cơ sở ngành nghề và trình độ công nghệ của nền sản xuất. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu (nghiên cứu trên bàn), tổng hợp và phân tích số liệu thứ cấp từ các báo cáo, báo cáo báo chí về tình hình lao động – công việc làm quý và cả năm 2025 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính chính, trước đây là Tổng thống kê thống kê), kết hợp phương pháp thống kê mô tả và so sánh để xác định xu hướng biến động.

3. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRẺ VIẾT

3.1. Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên duy trì ở mức cao

Số liệu của Cục Thống kê cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15–24 tuổi) trong năm 2025 biến động theo xu hướng tăng dần qua các quý: quý I đạt 7,93%, quý II tăng lên 8,19%, quý III tiếp tục tăng 9,03% và quý IV ở mức 9,04%. Tính chung cả năm 2025, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên đạt 8,64%, cao hơn năm trước và cao gấp gần bốn lần tỷ lệ thất bại chung ở độ tuổi lao động (2,22%). Trong khi đó, số người thất nghiệp ở độ tuổi lao động của cả nước năm 2025 là khoảng 1,06 triệu người.

Đáng chú ý, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên khu vực thành thị luôn cao hơn đáng kể so với khu vực nông thôn: quý IV/2025 tỷ lệ này ở thành thị có 11,12–11,23%, trong khi nông thôn là 7,09%. Điều này phản ánh ánh áp lực cạnh tranh làm việc tại đô thị lớn – nơi tập trung lao động trẻ có trình độ nhưng cũng là nơi có sẵn sàng lọc khe hơn về kỹ năng và kinh nghiệm.

3.2. Nhóm thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập (NEET)

(NEET - Không có việc làm, giáo dục hoặc đào tạo). Trong quý III/2025, cả nước có khoảng 1,6 triệu thanh niên thuộc nhóm này, sử dụng 11,5% tổng số thanh niên; Tính đến IV/2025 là 1,4% tức là 10,2%. Đáng lưu ý, tỷ lệ NEET ở nữ thanh niên (khoảng 12.1–13.3%) cao hơn hẳn so với nam thanh niên (8.3–9.8%), cho thấy độ chênh lệch trong khả năng tiếp theo dễ làm và cơ hội học tập, đào tạo.

3.3. Độ lệch khu vực đi đến giới tính

Tổng hợp số liệu các quý trong năm 2025 cho thấy một xu hướng nhất quán: lao động trẻ khu vực thành thị đối diện với tỷ lệ thất nghiệp cao hơn khu vực nông thôn, trong khi tỷ lệ NEET lại có xu hướng cao hơn khu vực nông thôn một số thời điểm trong năm – phản ánh đặc điểm khác biệt giữa hai loại "phi công việc": ở đô thị chủ yếu là công việc tìm kiếm (có nhu cầu nhưng không tìm được việc làm phù hợp), còn ở đó from the field lao động hoặc công việc trong lĩnh vực phi chính thức không được cung cấp đầy đủ thông tin.

3.4. Nhập chất lượng công việc

Thu nhập bình quân của người lao động cả nước 6 tháng đầu năm 2025 đạt 8,3 triệu đồng/tháng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Tuy thu nhập bình quân chung có cải thiện tốt hơn, nhưng phần lớn lao động trẻ mới gia nhập thị trường vẫn là tập trung ở các vị trí công việc làm phi chính thức, thu nhập chậm, thiếu tính ổn định và ít được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghiệp nghiệp – điều này có nhóm lao động trẻ em dễ thương hơn trước cú sốc kinh tế và công nghệ.

4. THÁCH THỨC ĐỐI Phù hợp THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRẺ

4.1. Mất cân bằng – cầu kỹ năng

Nghịch lý “thừa thầy thiếu kỹ năng số” tiếp tục là rào cản lớn. Nhiều thanh niên tốt nghiệp đại học, cao đẳng nhưng thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng số và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp, trong khi các ngành công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo lại thiếu đêm ác tính nhân lực chất lượng cao. Sự chênh lệch giữa đào tạo và nhu cầu thị trường khiến thời gian chuyển tiếp từ trường học sang làm việc của thanh niên kéo dài, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ NEET.

4.2. Tác động của chuyển đổi số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu công việc: nhiều công việc đơn giản, lặp lại có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa và AI, trong khi các công việc mới đòi hỏi kỹ năng số, tư duy phân tích và khả năng học tập đời lại chưa được trang bị đầy đủ cho lao động trẻ, đặc biệt là nhóm ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

4.3. Năng suất lao động và nguồn nhân lực chất lượng

Theo xác định được nêu tại các diễn đàn về công thanh niên trong giai đoạn hiện nay, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam có xu hướng chậm lại và thấp hơn nhiều nước trong khu vực; chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn hạn chế, thiếu lao động có tốc độ đáp ứng yêu cầu phát triển các lĩnh vực kinh tế mũi khuyên, công nghệ cao và chuyển đổi số. Đây được xác định là một trong những nguy hiểm cơ hậu về kinh tế cần giải quyết trên hành trình vươn lên của dân tộc.

4.4. Công việc phi chính thức và tính toán dễ tổn thương

Một bộ phận lớn lao động trẻ, đặc biệt là nhóm mới tốt nghiệp hoặc chưa qua đào tạo bài bản, phải chấp nhận công việc làm phi chính thức, thời vụ, không có đồng lao động, không được đóng bảo hiểm xã hội. Điều này tạo ra họ dễ dàng tinh tế trước biến động kinh tế, khó tích lũy kỹ năng nghề nghiệp bài bản và khó có cơ hội thăng tiến trong nghề.

4.5. Áp dụng năng lượng từ cổng vào và khu vực cạnh tranh

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, lao động trẻ Việt Nam không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn cạnh tranh với lao động các nước trong khu vực ASEAN về năng suất, kỹ năng ngoại ngữ đi đến khả năng thích ứng với tiêu chuẩn lao động quốc tế. Nếu không sớm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, Việt Nam khó tận dụng được các dòng vốn đầu tư công nghệ cao đang dịch chuyển trong khu vực.

5. YÊU CẦU ĐẶT RA TRỌNG BỐI CẢNH KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

"Kỷ nguyên vươn lên mình của dân tộc" được xác định gắn kết với mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, có thể chế quản lý hiện đại, kinh nghiệm phát triển năng lực dựa trên khoa học, công nghệ đi đến đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh đó, nguồn lực con người – đặc biệt là nguồn lực lao động trẻ – được xác định là nguồn lực “quyết định nhất” để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.

Điều này đặt ra yêu cầu kép đối với thị trường lao động trẻ: một mặt phải giải quyết ngay các vấn đề cấp bách như tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ NEET vẫn cao; một mặt khác phải chuẩn bị một thế hệ lao động trẻ có đủ năng lực cạnh tranh quốc tế, làm chủ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các kinh tế mũi khuyên chuyên ngành để đưa đất nước đột phá trong giai đoạn phát triển mới. Đây chính là lý do làm công tác thanh niên, trong đó có chính sách công việc làm cho thanh niên, được đặt ra như một nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

6. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRẺ

6.1. Đổi mới giáo dục nghề nghiệp, gắn kết nhà trường – doanh nghiệp

Cần thúc mô mạnh đào tạo gắn kết với thực hành và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, tăng cường thời lượng thực tập, hợp tác đào tạo theo đơn đặt hàng giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp. Đồng thời, cần chú ý hơn công tác định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh, sinh viên ngay từ giai đoạn phổ thông để mỗi thanh niên có thể lựa chọn con đường học tập, nghề nghiệp phù hợp với năng lượng bản thân và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

6.2. Phát triển kỹ năng số và năng lực ứng dụng công nghệ

Chương trình đào tạo cần phân tích kỹ năng số, tư duy dữ liệu, kiến ​​thức cơ bản về trí tuệ nhân tạo ngay từ bậc phổ thông và giáo dục nghề nghiệp; đồng thời khuyến khích hình học tập suốt đời, học lại – học nâng cao (tái kỹ năng, nâng cao kỹ năng) để lao động trẻ có thể thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và cơ cấu việc làm.

6.3. Hoàn thiện hệ thống thông tin và cung cấp báo cáo – lao động

Cần xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống dữ liệu thị trường lao động quốc gia, có khả năng dự báo cung – cầu lao động theo chuyên ngành, nghề nghiệp, trình độ trung bình và thời hạn, làm cơ sở cho chiến dịch mạng cơ sở đào tạo cũng như định hướng nghiệp vụ cho thanh niên, giảm thiểu tình trạng đào tạo theo nhu cầu thị trường.

6.4. Thúc đẩy khởi nghiệp và làm việc trong các ngành kinh tế mới

Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tín dụng, ưu đãi thuế và không thử nghiệm chính sách (sandbox) cho thanh niên khởi nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các ngành công nghệ cao, bán dẫn, năng lượng tái tạo để tạo thêm việc làm chất lượng cao cho lao động trẻ.

6.5. Hoàn thiện chính sách sinh xã hội cho lao động trẻ

Cần mở rộng độ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm rủi ro doanh nghiệp đối với lao động trẻ làm việc trong khu vực phi chính thức, đồng thời tăng cường các dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí thông qua hệ thống trung tâm dịch vụ làm việc, sàn giao dịch làm việc trực tuyến, giúp rút ngắn thời gian tìm việc và giảm tỷ lệ NEET, đặc biệt ở nhóm nữ thanh niên.

6.6. Thu hẹp chênh lệch và chênh lệch vùng

Cần có chính sách đặc thù hỗ trợ nữ thanh niên và thanh niên khu vực nông thôn, miền núi tiếp cận đào tạo nghề, thông tin việc làm và các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp, thúc đẩy thu hẹp khoảng cách về tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ NEET giữa các nhóm giới tính và khu vực.

7. KẾT LUẬN

Thị trường lao động trẻ Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý đáng chú ý: tỷ lệ thất nghiệp chung của nền kinh tế duy trì ở mức độ thấp, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ NEET của thanh niên vẫn ở mức cao và có xu hướng tăng qua các quý trong năm 2025. Cùng với đó là tình trạng mất cân đối cung – cầu kỹ năng, năng suất lao động tăng chậm và tốc độ làm việc phi chính thức còn lớn. Trong bối cảnh đất nước bước vào "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" với mục tiêu phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc làm phát huy hiệu quả nguồn lực lao động trẻ – được xác định là nguồn lực quyết định nhất – Đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ, từ đổi mới giáo dục nghề nghiệp, phát triển kỹ năng số, hoàn thiện thông tin thị trường lao động để mở rộng xã hội sinh thái. Chỉ khi giải quyết được đồng thời bài toán số lượng việc làm và chất lượng nguồn nhân lực trẻ, Việt Nam mới có thể tận dụng toàn bộ giai đoạn dân số vàng để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước cần vinh, hùng cường.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thống kê (Bộ Tài chính) (2025), Thông báo báo chí về tình hình lao động, Việc làm quý I năm 2025 .

2. Thống kê (Bộ Tài chính) (2025), Thông báo báo chí về tình hình lao động, Việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2025 .

Thống kê (Bộ Tài chính) (2025), Thông báo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý III và 9 tháng năm 2025 .

3. Thống kê (Bộ Tài chính) (2026), Báo cáo tình hình dân số, lao động, Việc làm quý IV và cả năm 2025 .

4. Báo Kiểm toán Nhà nước (2025), “Lao động, việc làm 6 tháng đầu năm: Cần chú ý tỷ lệ thanh niên thất nghiệp”.

5. VnEconomy (2026), “Thất nghiệp Việt Nam 2025: 1.06 triệu lao động gặp khó khăn”.

6. Báo Thanh Niên (2026), “Cả nước có 1,4 triệu thanh niên không đi làm, cũng không tham gia học tập”.

7. Báo Thanh Niên (2024), “Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thanh niên có nhiều nhiệm vụ đột phá”.

8. Báo Nhân Dân (2025), “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” – Nhận thức và phát triển khai hành động.

9. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo
Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews

Từ khóa liên quan

Bấm vào mỗi từ khóa để xem bài cùng chủ đề

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay