Tăng trưởng tín dụng mạnh giữa áp lực vốn mỏng, ngân hàng đối mặt rủi ro cao
Đại diện S&P Global Ratings cảnh báo, tín dụng tăng trưởng quá nhanh mà không đi kèm các biện pháp bổ sung vốn hợp lý có thể ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng.
Nguồn vốn hơn 4 triệu tỷ đồng cho tăng trưởng kinh tế
Tại một sự kiện gần đây, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết Việt Nam cần huy động hơn 4 triệu tỷ đồng (tương đương 160 tỷ USD) để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm 2025.
“Đây là con số rất lớn. Bên cạnh nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực cho nền kinh tế cũng như mục tiêu tăng trưởng,” ông nhấn mạnh.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, khi tỷ lệ tín dụng/GDP lên tới 140%, cao gấp gần ba lần mức trung bình 50% của thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng sẽ tiếp tục gánh vác trọng trách cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Lợi nhuận ổn định nhưng bộ đệm vốn còn yếu
Theo ông Ivan Tan, Giám đốc bộ phận Xếp hạng Tín nhiệm Các Định chế Tài chính tại S&P Global Ratings, các ngân hàng Việt Nam có khả năng sinh lời ổn định so với nhiều quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Cụ thể, trong giai đoạn 2021 - 2025, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) của các ngân hàng Việt Nam được dự báo duy trì trên 1%. Trong khi đó, ROA của các ngân hàng Campuchia đã giảm mạnh từ mức trên 1,5% năm 2021 xuống dưới 1%, còn ROA của ngân hàng Trung Quốc cũng có xu hướng giảm dần, cho thấy áp lực lợi nhuận ngày càng lớn.
Dù có lợi nhuận ổn định, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn tồn tại điểm yếu lớn là bộ đệm vốn mỏng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng mà còn làm gia tăng rủi ro trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động.
Dẫn chứng cho nhận định này, ông Ivan Tan cho biết tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng Việt Nam hiện ở mức 12,4% - thấp nhất trong khu vực, thua xa Campuchia (22,6%), Thái Lan (20,5%) và Trung Quốc (15,6%).
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cũng từng đề cập đến thực trạng nhiều ngân hàng huy động được 10 đồng nhưng cho vay hơn 10 đồng, thậm chí phải sử dụng vốn tự có, vốn điều lệ và cả vốn tái cấp vốn của NHNN để duy trì hoạt động cho vay.
Tăng trưởng tín dụng của Việt Nam hiện đạt 12 - 15% mỗi năm, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 8 - 10% của các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, theo ông Ivan Tan, nếu tín dụng tiếp tục mở rộng nhanh trong khi các ngân hàng chưa kịp bổ sung vốn hợp lý, chất lượng tài sản có thể suy giảm, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu gia tăng.
Áp lực tăng vốn ngày càng lớn
Bên cạnh việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, các ngân hàng Việt Nam còn phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn theo lộ trình mới của NHNN.
Theo Dự thảo Thông tư quy định tỷ lệ an toàn vốn, từ năm 2030, NHNN sẽ nâng hệ số CAR tối thiểu từ 8% lên 10,5%, bao gồm vốn cấp 1 và cấp 2 ở mức 8% cùng với vốn đệm bảo toàn vốn 2,5%.
Ngoài ra, NHNN đang hướng tới bỏ cơ chế room tín dụng, tức mỗi ngân hàng sẽ tự quyết định tốc độ tăng trưởng tín dụng dựa trên năng lực tài chính thay vì bị giới hạn bởi NHNN. Khi đó, bộ đệm vốn vững chắc sẽ là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng duy trì sự ổn định và tránh rủi ro mở rộng tín dụng quá mức.
Giải pháp nào cho bài toán vốn?
Một trong những cách tăng vốn phổ biến là bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, ông Ivan Tan cho rằng giải pháp này đang gặp hạn chế do room ngoại hiện bị giới hạn ở mức 30%. Nhiều ngân hàng đã kín room và khó có thể huy động thêm vốn từ kênh này.
Phát hành trái phiếu cấp 2 là một lựa chọn khác. Đại diện S&P Global Ratings nhận định, phương án này giúp ngân hàng huy động vốn dài hạn với chi phí hợp lý hơn, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn tiền gửi ngắn hạn và nâng cao tính ổn định tài chính. Tuy nhiên, vốn từ trái phiếu cấp 2 không bền vững, dễ biến động và có thể tạo áp lực trả nợ trong tương lai.
“Để cải thiện vốn hóa ngân hàng, Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, kết hợp nhiều biện pháp từ mở rộng thị trường, cải thiện môi trường pháp lý đến kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng. NHNN cũng cần có chính sách hỗ trợ nhằm giảm chi phí huy động vốn cho ngân hàng,” ông Ivan Tan đề xuất.
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với các doanh nghiệp nhà nước, Chủ tịch HĐQT BIDV Phan Đức Tú cho biết các ngân hàng thương mại đang chịu áp lực rất lớn.
“Với yêu cầu cung ứng vốn cho nền kinh tế lên đến 15,6% và có thể cao hơn trong tương lai, vốn tự có của các ngân hàng thương mại phải tăng lên tương ứng. Chúng tôi không chỉ phải đáp ứng nhu cầu tín dụng mà còn phải đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế,” ông nói.
Do đó, BIDV kiến nghị Quốc hội và Chính phủ cho phép ngân hàng thương mại nhà nước giữ lại lợi nhuận để tăng vốn điều lệ, tương tự như cơ chế từng được áp dụng trong Nghị quyết 43 của Quốc hội về chương trình phục hồi kinh tế giai đoạn 2021 - 2023.
Tổng Giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng cũng nhấn mạnh rằng để duy trì tốc độ tăng trưởng dư nợ hơn 200.000 tỷ đồng mỗi năm, Agribank cần bổ sung từ 15.000 - 17.000 tỷ đồng vốn tự có. Ngân hàng này đã kiến nghị Quốc hội và Chính phủ xem xét một cơ chế riêng, cho phép bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận thực nộp hàng năm, với mức tối thiểu 10.000 tỷ đồng/năm, bắt đầu từ năm 2025.
Áp lực tăng vốn ngày càng hiện hữu, đặt ra bài toán cấp bách cho hệ thống ngân hàng trong việc củng cố bộ đệm tài chính, đảm bảo an toàn hệ thống và duy trì tăng trưởng bền vững.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay

Bàn tán về thị trường