menu
Hạ lãi suất và bài toán giảm chi phí cho doanh nghiệp
Võ Văn Huy Vip
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Hạ lãi suất và bài toán giảm chi phí cho doanh nghiệp

Yêu cầu giảm lãi suất đang mở ra cơ hội giảm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp. Hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc vào mức giảm thực tế, khả năng tiếp cận vốn và triển vọng kinh doanh của người vay.

Một khoản vay rẻ hơn có thể giúp doanh nghiệp giữ lại dòng tiền để trả lương, mua nguyên liệu hoặc duy trì sản xuất. Nhưng để doanh nghiệp quyết định mở rộng đầu tư, chi phí lãi vay chỉ là một phần của phép tính. Họ còn phải nhìn vào đơn hàng, thời gian thu hồi vốn và những vướng mắc khi triển khai dự án.

Đó cũng là điều cần đặt ra khi đánh giá đợt chỉ đạo giảm lãi suất lần này: doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được bao nhiêu, và khoản tiết kiệm ấy có đủ để thúc đẩy hoạt động kinh tế hay không?

Yêu cầu giảm lãi suất gắn với kỷ luật điều hành

Tại cuộc họp ngày 16/10, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay từ 1,5–2 điểm phần trăm đối với sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Ngày 18/10, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Văn bản 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu trước mắt giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5 điểm phần trăm mỗi năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Việc thực hiện được gắn với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Tùy tính chất, mức độ rủi ro, tổ chức tín dụng không tuân thủ có thể bị xem xét lại chỉ tiêu trong thời gian còn lại của năm 2026, được giao chỉ tiêu thấp năm 2027 hoặc phải áp dụng một số tỷ lệ an toàn cao hơn quy định.

Một số ngân hàng đã công bố động thái cụ thể. BIDV triển khai chương trình từ ngày 15/10 với lãi suất từ 6%/năm, thấp hơn tới 2 điểm phần trăm so với mức thông thường, dành cho khoản vay ngắn hạn bằng VND thuộc các lĩnh vực phù hợp định hướng ưu tiên. Chủ tịch Vietcombank cũng cam kết giảm tối thiểu 2 điểm phần trăm lãi suất cho vay từ thời điểm phát biểu ngày 17/10 đến cuối năm.

Agribank thông báo từ ngày 19/10 sẽ giảm lãi suất cho vay tới 2 điểm phần trăm mỗi năm, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên; ngân hàng dự kiến dành khoảng 2.000 tỷ đồng từ nguồn lực tài chính để hỗ trợ khách hàng.

Các mức giảm công bố cần được đọc cùng điều kiện áp dụng. Mức lãi suất “từ 6%” hay giảm “tới 2 điểm phần trăm” chưa đồng nghĩa mọi khách hàng, mọi khoản vay hiện hữu đều được hưởng mức ưu đãi cao nhất.

Chi phí vốn giảm cần thời gian để lan tỏa

Áp lực giảm lãi vay xuất hiện trong bối cảnh chi phí huy động tại một số ngân hàng vẫn cao. Tuy nhiên, các mức lãi suất tiền gửi nổi bật trên thị trường có điều kiện rất khác nhau. Theo khảo sát của Bnews ngày 18/10, mức 10%/năm tại PVcomBank gắn với tiền gửi tại quầy từ 2.000 tỷ đồng, còn mức 9%/năm tại MSB đòi hỏi số dư tối thiểu 500 tỷ đồng cùng điều kiện riêng.

Những trường hợp này không thể dùng để đại diện cho mặt bằng huy động của toàn hệ thống. Lãi suất tiền gửi mới cũng khác với chi phí vốn bình quân của ngân hàng, vốn còn chịu ảnh hưởng từ các khoản tiền gửi đã huy động trước đó và cơ cấu nguồn vốn.

Vì vậy, không thể lấy mức giảm lãi cho vay 1,5–2 điểm phần trăm trừ đi mức giảm lãi tiền gửi tối thiểu 0,5 điểm phần trăm rồi kết luận biên lãi thuần của ngân hàng sẽ giảm tương ứng. Biên lãi thuần, thường gọi là NIM, được tính bằng thu nhập lãi thuần trên tài sản sinh lãi bình quân. Tác động thực tế còn phụ thuộc tỷ trọng khoản vay được giảm lãi, thời điểm điều chỉnh lãi suất và khả năng thay thế nguồn vốn chi phí cao.

Nếu lãi cho vay giảm nhanh hơn chi phí huy động bình quân, lợi nhuận ngân hàng có thể chịu sức ép trong ngắn hạn. Ngược lại, khi khách hàng cải thiện dòng tiền và khả năng trả nợ, ngân hàng có cơ hội giảm tổn thất tín dụng. Muốn đánh giá đầy đủ cần theo dõi cả thu nhập lãi lẫn chi phí dự phòng.

Vốn rẻ phải đến được doanh nghiệp cần vốn

Một mức lãi suất hấp dẫn chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện vay. Trong chỉ đạo mới, NHNN đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng giữ chuẩn cấp tín dụng và kiểm soát rủi ro.

Điều này đặt ra bài toán khó với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những đơn vị thiếu hồ sơ tài chính minh bạch, dòng tiền ổn định hoặc tài sản bảo đảm phù hợp vẫn có thể gặp trở ngại, dù lãi suất niêm yết đã giảm. Ngân hàng cũng có động lực lựa chọn khách hàng có khả năng trả nợ tốt để kiểm soát rủi ro khi thu nhập từ cho vay thu hẹp.

Đây là rủi ro phân bổ vốn cần theo dõi, chưa phải kết luận rằng chính sách chỉ có lợi cho khách hàng lớn hay người đã vay được tiền. Khả năng tiếp cận tín dụng còn có thể cải thiện thông qua đánh giá dòng tiền, cho vay theo chuỗi cung ứng và các cơ chế bảo lãnh phù hợp.

Thước đo hữu ích vì thế là số doanh nghiệp đủ điều kiện thực sự được hưởng ưu đãi, quy mô dư nợ áp dụng và tổng chi phí họ phải trả. Phí liên quan, thời hạn ưu đãi và lãi suất sau ưu đãi đều ảnh hưởng đến lợi ích cuối cùng của người vay.

Đơn hàng và hiệu quả đầu tư quyết định sức hấp thụ vốn

Với doanh nghiệp đang có đơn hàng nhưng chịu chi phí tài chính cao, giảm lãi suất có thể tạo tác động rõ rệt. Chẳng hạn, một doanh nghiệp duy trì dư nợ 100 tỷ đồng trong cả năm, được giảm 2 điểm phần trăm lãi suất trên toàn bộ số dư đó, sẽ tiết kiệm khoảng 2 tỷ đồng tiền lãi trước thuế, nếu các yếu tố khác không đổi. Đây là ví dụ minh họa, không phải mức hỗ trợ mặc định của một chương trình cụ thể.

Khoản tiết kiệm có thể giúp doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động và cải thiện khả năng trả nợ. Tuy nhiên, khoản vay lãi suất cố định hoặc chưa đến kỳ điều chỉnh sẽ phụ thuộc điều khoản hợp đồng và chính sách áp dụng của ngân hàng.

Đối với dự án mới, quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào lợi nhuận kỳ vọng. Khi đầu ra thiếu chắc chắn, công nợ chậm thu hoặc thủ tục pháp lý kéo dài, doanh nghiệp có thể tiếp tục thận trọng dù lãi suất thấp hơn. Vì thế, giảm chi phí tài chính cần đi cùng cải thiện môi trường kinh doanh, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và khơi thông thanh toán.

Dư địa hạ lãi suất cũng cần được cân đối với thanh khoản, lạm phát và tỷ giá. Chênh lệch lợi suất giữa VND và USD thu hẹp có thể làm gia tăng sức ép lên tỷ giá, nhưng mức độ còn phụ thuộc dòng ngoại tệ, kỳ vọng thị trường và cách điều hành. Chưa có cơ sở để khẳng định hạ lãi suất tất yếu dẫn đến mất giá tiền đồng hoặc buộc NHNN phải hút thanh khoản.

Nhà đầu tư cần nhìn vào kết quả thực hiện

Với cổ phiếu ngân hàng, tác động sẽ khác nhau theo cơ cấu nguồn vốn, khả năng điều chỉnh lãi suất và chất lượng tài sản. Ngân hàng có tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao có thể thuận lợi hơn về chi phí vốn, nhưng lợi thế ấy vẫn phải được đặt cạnh tăng trưởng tín dụng và nghĩa vụ trích lập dự phòng.

Ở phía doanh nghiệp, mức hưởng lợi phụ thuộc vào phần dư nợ thực sự được giảm lãi và khả năng biến dòng tiền tiết kiệm thành lợi nhuận. Một doanh nghiệp vay nợ lớn nhưng thiếu đầu ra chưa chắc hưởng lợi nhiều hơn doanh nghiệp có đơn hàng ổn định và quản trị vốn tốt.

Lãi suất tiết kiệm giảm có thể tăng sức hấp dẫn tương đối của cổ phiếu. Dòng tiền vào thị trường vẫn phụ thuộc triển vọng lợi nhuận, định giá và tâm lý nhà đầu tư; không thể suy ra tiền gửi sẽ tự động chuyển sang chứng khoán.

Chính sách hạ lãi suất có cơ sở để giảm gánh nặng tài chính cho người vay. Thành công của chính sách sẽ thể hiện ở chi phí vay thực tế thấp hơn, vốn đến được các phương án kinh doanh khả thi và chất lượng tín dụng được giữ vững. Khi những kết quả này đi cùng việc tháo gỡ các chi phí về thủ tục và vận hành, lợi ích đối với nền kinh tế mới có thể bền vững.

Hạ lãi suất và bài toán giảm chi phí cho doanh nghiệp

Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo
Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews

Từ khóa liên quan

Bấm vào mỗi từ khóa để xem bài cùng chủ đề

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay