menu
Giảm phát là gì?
Trần Đức Lương Pro
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Giảm phát là gì?

Giảm phát là một hiện tượng ngược lại với lạm phát. Đây là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục. Cũng có thể nói giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm. Trong các tài liệu thống kê tình hình kinh tế chính thức, khi đề cập đến giảm phát, người ta vẫn đặt dấu âm kèm với con số ở mục tỷ lệ lạm phát. Tình trạng giảm phát thường xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn.

Giảm phát là gì?

Nói chung giảm phát là một vấn đề lớn trong nền kinh tế hiện đại do nó làm tăng giá trị thật của nợ, có thể làm trầm trọng thêm suy thoái.
Giảm phát là gì?

NGUYÊN NHÂN:

Hiện tượng này làm giá trị hàng hoá giảm hoạt động kinh tế cũng ngưng trệ theo. Hộ gia đình hoãn chi tiêu chờ giảm giá sâu hơn, doanh nghiệp ngừng đầu tư và tuyển dụng nhằm tiết kiệm chi phí.

Giảm phát kéo dài cùng với lãi suất thấp kéo theo những hệ lụy như sản lượng đình đốn và suy thoái. Kỳ vọng giảm phát tạo ra lãi suất thực tăng gây ra suy thoái mở rộng. Suy thoái kéo dài và giảm phát liên tục làm cho chính sách tiền tệ mất tác dụng.

Với nền kinh tế vĩ mô, nếu giảm phát không được can thiệp kịp thời, nó sẽ trở nên ngày càng dai dẳng. Khi mà giá cả giảm, tình trạng thiếu việc làm và người tiêu dùng tích trữ tiền với dự đoán là giá cả còn giảm nữa thì điều này sẽ làm hại nền kinh tế, như kiểu truyền lực cho thói quen tiết kiệm và cứ thế xoáy xuống.

VÍ DỤ:

Có lẽ ví dụ “khét tiếng” nhất về giảm phát phải kể đến đó chính là cuộc Đại suy thoái ở Hoa Kỳ, bắt đầu với sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào ngày 4 tháng 9 năm 1929. Tỷ lệ thất nghiệp trong thời kỳ Đại suy thoái lên tới gần 25%. Tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tức là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất, giảm xuống dưới 0% trong những năm 1930-1933. Điều này có nghĩa là giá trị sản xuất của Hoa Kỳ ngày càng giảm.

Cuộc Đại suy thoái là một ví dụ rõ ràng về cách thức hoạt động của vòng xoáy giảm phát đi xuống. Và phải đến khi các chính sách tài khóa của Tổng thống Franklin D. Roosevelt khởi động thì lạm phát mới bắt đầu tăng trở lại, đi kèm với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng GDP.

NGUYÊN NHÂN CHÍNH GÂY RA GIẢM PHÁT :

Có nhiều lý do khiến giảm phát xảy ra, dưới đây là những nguyên nhân đóng vai trò quan trọng nhất:

1) Thay đổi cấu trúc thị trường vốn

Khi nhiều công ty khác nhau đang bán cùng một loại hàng hóa hoặc dịch vụ, họ thường có xu hướng hạ giá sản phẩm như một biện pháp để cạnh tranh với đối thủ. Khi nền kinh tế thay đổi cấu trúc giúp cho các công ty tiến cận với thị trường vốn và thị trường vốn cổ phần một cách dễ dàng nhằm tài trợ cho các doanh nghiệp mới hoặc cải thiện năng suất. Tuy nhiên, khi nguồn vốn được sử dụng để tăng năng suất cao, các doanh nghiệp cần giảm giá sản phẩm để thể hiện nguồn cung sản phẩm tăng, từ đó dẫn đến giảm phát.

2) Tăng năng suất

Các giải pháp sáng tạo và quy trình mới giúp tăng hiệu quả sản xuất, điều này dẫn đến giá thành thấp hơn. Mặc dù một số đổi mới chỉ ảnh hưởng đến năng suất của một số ngành nhất định, nhưng có những đổi mới có thể ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế.

Giảm phát là gì?

Nguyên nhân dẫn đến giảm phát - Tăng năng suất

3) Giảm cung tiền tệ

Nguồn cung tiền tệ nói chung giảm do các hành động của các ngân hàng trung ương, thường là với mục đích rõ ràng là kiểm soát lạm phát. Tương tự với chi tiêu cho tín dụng là một thực tế của cuộc sống trong nền kinh tế hiện đại, khi các chủ nợ rút tiền cho ngân hàng vay, người tiêu dùng và doanh nghiệp phải chi tiêu hạn chế hơn từ đó buộc người bán phải hạ giá sản phẩm để tăng doanh số.

4) Các biện pháp thắt lưng buộc bụng

Giảm phát có thể là kết quả của việc giảm chi tiêu của chính phủ, doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng, có nghĩa là việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ có thể dẫn đến các giai đoạn giảm phát đáng kể.

Giảm phát là gì?

Nguyên nhân dẫn đến giảm phát - Giảm cầu

5) Xoắn ốc giảm phát (Giảm phát liên tục)

Một khi giảm phát kéo dài, rất khó để đưa nền kinh tế vào tầm kiểm soát. Trong thực tế, một khi giảm phát xuất hiện sẽ trở nên dai dẳng phức tạp khó kiểm soát. Do đó, mấu chốt chính là sự tự củng cố. Tuy nhiên, khi người tiêu dùng và doanh nghiệp cắt giảm chi tiêu, vòng xoáy giảm phát cứ thế tiếp tục.

ẢNH HƯỞNG CỦA GIẢM PHÁT :

Có thể nói, giảm phát là một cơn ác mộng khủng khiếp đối với mọi nền kinh tế, ảnh hưởng của giảm phát có thể kể đến như:

Doanh thu kinh doanh bị giảm

Các doanh nghiệp phải giảm đáng kể giá sản phẩm của mình để duy trì tính cạnh tranh với thủ và kéo theo việc giảm doanh thu. Khi tình trạng này kéo dài đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp cần phải ngày càng giảm giá khi thời kỳ giảm phát tiếp tục. Mặc dù hoạt động với hiệu quả sản xuất được cải thiện, nhưng tỷ suất lợi nhuận của họ cuối cùng vẫn không ngừng giảm xuống.

Cắt giảm lương và sa thải nhân viên

Khi doanh thu bắt đầu giảm, các công ty cần tìm cách giảm chi phí để cân bằng lợi nhuận. Doanh nghiệp tìm cách cắt giảm chi phí bằng việc giảm lương nhân viên hoặc sa thải nhân công. Tuy nhiên, điều này chỉ làm trầm trọng thêm chu kỳ lạm phát, vì nhiều người tiêu dùng sẽ có ít tiền để chi tiêu hơn.

Giảm phát là gì?

Thay đổi trong chi tiêu của khách hàng

Có thể nói, mối quan hệ giữa giảm phát và chi tiêu của người tiêu dùng rất phức tạp và thường khó dự đoán. Khi nền kinh tế trải qua thời kỳ giảm phát, khách hàng thường tận dụng giai đoạn này để mua về nhiều sản phẩm hơn vì chúng có giá thành rẻ hơn thông thường nên chi tiêu của họ sẽ tăng lên. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp tìm cách củng cố lợi nhuận bằng cách sa thải nhân viên hoặc giảm lương, người tiêu dùng từ đó sẽ bị giảm thu nhập của mình nên họ buộc phải giảm chi tiêu của mình. Khi chi tiêu giảm, chu kỳ giảm phát cũng trở nên tồi tệ hơn.

Giảm cổ phần trong các khoản đầu tư

Khi nền kinh tế trải qua một đợt giảm phát, các nhà đầu tư chọn cách giữ tiền mặt như một cách đầu tư thông minh. Họ cũng nhận ra lãi suất ngân hàng mà các nhà đầu tư kiếm được giảm đáng kể nên họ sẽ chọn cách giảm số tiền chi tiêu của mình đến mức tối thiểu. Bên cạnh đó, các khoản đầu tư khác có thể mang lại lợi nhuận âm hoặc bị biến động mạnh vì các nhà đầu tư bắt đầu lo lắng và không công bố lợi nhuận. Do đó, các nhà đầu tư chọn cách bán cổ phiếu khiến thị trường chứng khoán bị sụt giảm đáng kể.

Giảm tín dụng

Khi tình trạng giảm phát bùng phát, các công ty cho vay tài chính nhanh chóng bắt đầu thực hiện các hoạt động cho vay vì nhiều lý do. Trước hết, do các tài sản như nhà ở giảm giá trị, khách hàng không thể trả nợ bằng cùng một tài sản thế chấp. Trong trường hơp này, ngân hàng sẽ không thể thu hồi toàn bộ khoản đầu tư thông qua việc tịch thu tài sản. Ngoài ra, khi tình hình tài chính thay đổi, các ngân hàng có thể cố gắng giảm lãi suất để khuyến khích khách hàng vay và chi tiêu nhiều hơn.

MỘI SỐ BIỆN PHÁT VĨ MÔ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI PHÓ VỚI GIẢM PHÁT :

Dưới đây là một số cách đối phó với giảm phát phổ biến:

Giảm giới hạn dự trữ ngân hàng

Trong hệ thống ngân hàng dự trữ phân đoạn các ngân hàng sử dụng tiền gửi để tạo ra các khoản vay mới. Theo quy định, các ngân hàng dự trữ chỉ được phép làm như vậy trong phạm vi giới hạn dự trữ. Giới hạn đó thường được đặt ở mức khoảng 5-10%.

Hoạt động thị trường mở

Các ngân hàng trung ương có thể kích thích tăng cung tiền và khuyến khích mọi người chi tiêu nhiều hơn bằng cách mua chứng khoán quỹ trên thị trường mở và đổi lại, phát hành tiền mới cho người bán. Giống như bất kỳ hàng hóa nào khác, giá tiền được xác định bởi cung và cầu của nó. Nếu cung tiền tăng lên, nó sẽ bị mất giá.

Giảm lãi suất mục tiêu

Các ngân hàng trung ương có thể hạ lãi suất mục tiêu đối với các khoản tiền ngắn hạn được cho vay trong và ngoài khu vực tài chính. Việc hạ lãi suất làm cho việc vay tiền trở nên rẻ hơn và khuyến khích đầu tư mới bằng cách sử dụng tiền đi vay. Nó cũng khuyến khích các cá nhân mua nhà hoặc các tài sản khác bằng cách giảm chi phí hàng tháng.

Nới lỏng định lượng

Khi lãi suất danh nghĩa được hạ xuống hoàn toàn bằng 0, các ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ tiền tệ độc đáo. Nới lỏng định lượng là khi chứng khoán tư nhân được mua trên thị trường mở, ngoài kho bạc. Điều này không chỉ bơm thêm tiền vào hệ thống tài chính mà còn làm tăng giá của các tài sản tài chính, khiến chúng không giảm thêm nữa.

Lãi suất âm

Một công cụ độc đáo khác là đặt lãi suất danh nghĩa âm. Chính sách lãi suất âm có nghĩa là người gửi tiền phải trả thay vì nhận lãi từ tiền gửi. Khi việc gửi tiền tại ngân hàng trở nên tốn kém, người dân sẽ có xu hướng sử dụng số tiền mình có vào việc tiêu dùng hoặc đầu tư vào các tài khoản hay dự án thu được lợi nhuận tích cực hơn.

Tăng chi tiêu của chính phủ

Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes ủng hộ việc sử dụng chính sách tài khóa để thúc đẩy tổng cầu và kéo một nền kinh tế ra khỏi thời kỳ giảm phát. Nếu các cá nhân và doanh nghiệp ngừng chi tiêu, thì sẽ không có động lực để sản xuất và tuyển dụng người lao động. Chính phủ có thể tham gia với tư cách là người chi tiêu cuối cùng để duy trì hoạt động sản xuất và việc làm. Chính phủ thậm chí có thể vay tiền để chi tiêu bằng cách gây ra thâm hụt tài chính. Lúc này, các doanh nghiệp và nhân viên sẽ sử dụng số tiền chính phủ đó để chi tiêu và đầu tư cho đến khi giá bắt đầu tăng trở lại theo nhu cầu.

Cắt giảm thuế suất

Nếu các chính phủ cắt giảm thuế, một nguồn thu nhập lớn sẽ nằm trong túi các doanh nghiệp và nhân viên của họ và chi tiêu số tiền mà trước đây dành cho thuế. Một rủi ro của việc giảm thuế trong thời kỳ suy thoái là doanh thu từ thuế tổng thể sẽ giảm xuống, điều này có thể buộc chính phủ phải cắt giảm chi tiêu và thậm chí ngừng hoạt động của các dịch vụ cơ bản.

Nguồn: Báo đầu tư.

Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo
Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews

Từ khóa liên quan

Bấm vào mỗi từ khóa để xem bài cùng chủ đề

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay