Covid-19 và các tác động mang tính căn bản tới hệ thống thương mại toàn cầu
Khủng hoảng Covid-19 đã bộc lộ những rủi ro kinh tế, sức khỏe và chính trị của tình trạng thiếu nguồn cung các mặt hàng cơ bản khi tình trạng dịch bùng phát trong quốc gia.
+ Các nước tự chủ hơn về nguồn cung dược phẩm và thiết bị y tế:
Tại Mỹ, Covid-19 cũng nhấn mạnh khía cạnh đúng đắn và lợi ích của các chính sách “người Mỹ mua hàng Mỹ” cùng các hạn chế xuất khẩu hàng hóa quan trọng ra bên ngoài.
Các chính sách trên có thể thực hiện dưới hình thức áp đặt hạn ngạch nhập khẩu hoặc đặt hạn chế thương mại theo Điều 201 và 232 Luật Mở rộng thương mại 1962. Các hạn chế trên có thể được người dân Mỹ ủng hộ trong ngắn hạn, cũng phần nào cần thiết khi xét tình trạng Mỹ thiếu vật phẩm y tế khi khủng hoảng hiện nay.
Về lâu dài, Chính phủ Mỹ có thể gia tăng tự chủ về nguồn cung y tế, giảm phụ thuộc nước ngoài qua ban hành các chính sách nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng và gia tăng tính cạnh tranh của ngành công nghiệp sản xuất thiết bị y tế từ nước ngoài, thay vì đơn thuần đóng cửa thị trường với thế giới.
Các chính sách khuyến khích công nghiệp sản xuất y tế và dược phẩm nội địa phát triển bao gồm tăng cấp ngân sách cho Viện nghiên cứu y tế quốc gia (NIH), các chương trình y tế toàn cầu do Mỹ tài trợ, tăng kinh phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) dược phẩm thế hệ mới, hỗ trợ ngành công nghiệp và các tổ chức chuyên môn về kỹ thuật gene, và quy định nhập cư cho phép giữ lại những nhà khoa học và nhân lực nước ngoài chất lượng cao thuộc khối ngành STEM (Science, Technology, Engineering, Mathematics).
Đây là các giải pháp có tính khả thi cao hơn việc phong tỏa hoàn toàn công nghiệp y tế - dược phẩm nội địa. Ngoài ra, trong tương tác thương mại quốc tế, Mỹ sẽ có lợi hơn khi: Cập nhật vừa điều chỉnh các điều khoản từ các Hiệp định về thương mại y tế - dược phẩm nhằm đa dạng hóa nguồn cung hàng hóa; Luôn chuẩn bị kịch bản dự phòng sẵn sàng cho các khủng hoảng tương tự có thể xảy ra trong tương lai. Xu hướng tự chủ hóa nguồn cung dược phẩm và y tế, coi đây là các mặt hàng có liên hệ mật thiết tới an ninh quốc gia đã bắt đầu được một số quốc gia khác hưởng ứng: Đức đã ra quyết định cấm hoạt động Mua bán & Sáp nhập (M&A) của nước ngoài với một số doanh nghiệp trong lĩnh vực y tế.
+ Chuỗi cung ứng linh hoạt:
Virus SARS-CoV-2 đã khiến doanh nghiệp nhận ra nguy cơ từ chuỗi cung ứng phụ thuộc quá nhiều vào 01 mắt xích sản xuất duy nhất. Dịch Covid-19 đã khiến các doanh nghiệp phải đánh giá lại tổng thể lợi ích và rủi ro với chuỗi cung ứng mình đang có và đưa ra điều chỉnh. Có thể kỳ vọng nhiều doanh nghiệp sẽ chọn đưa chuỗi cung ứng về gần thị trường tiêu dùng mục tiêu của sản phẩm (như Mỹ), hoặc ít nhất đa dạng hóa nguồn cung hàng hóa bao gồm nhiều nước thay vì “bỏ hết trứng vào một giỏ” như hiện nay. Đối với các doanh nghiệp trên, điều chỉnh chuỗi cung ứng dù có thể khiến chi phí gia tăng, nhưng là bước đi cần thiết nhằm dự phòng cho các khủng hoảng tương tự những gì chúng ta đang chứng kiến.
Tính linh hoạt và đa dạng của nguồn cung sản phẩm còn gia tăng khi các công nghệ hiện đại được phổ cập và áp dụng rộng rãi. Trong khủng hoảng Covid-19 hiện nay, các kỹ sư và bác sĩ đang sử dụng công nghệ mới – công nghệ in 3D – nhằm đóng góp vào việc sản xuất cung ứng linh kiện và trang thiết bị bảo hộ y tế. Các công ty in ấn 3D vốn đứng ngoài ngành thiết bị và dược phẩm y tế, tuy nhiên bản chất của công nghệ in 3D giúp các doanh nghiệp trên nhanh chóng xâm nhập ngành sản xuất này, ít nhất là nhanh hơn ngành sản xuất ô tô có quy mô rất lớn nhưng công nghệ sản xuất kém đa dụng hơn.
Một số công nghệ mới cũng cho thấy tiềm năng phát triển của mình sau dịch bệnh, giúp nâng cao tính tự động hóa và giảm tương tác trực tiếp người – người trong hoạt động kinh tế: Thiết bị vận chuyển tự động không người lái trong giao nhận hàng hóa (delivery drones), tàu container và xe tải vận tải hàng hóa đường dài tự động, xu hướng tăng tự động hóa trong sản xuất…
Trong tương lai, tác động của các công nghệ mới với hệ thống thương mại cần được phân tích và đánh giá cụ thể trong một nghiên cứu riêng biệt. Chúng có thể có một số ích lợi – không biết mệt, không biết ốm đau và có tính chính xác cao dù có thể vẫn nhiễm “virus” – virus công nghệ.
Tuy nhiên, công nghệ mới cũng có thể gây ra xáo trộn về xã hội, khiến người lao động (đặc biệt lao động trình độ thấp) lo lắng bị thanh loại trên quy mô lớn. Đây là các tác động tất yếu thường gặp sau bất kỳ cuộc cách mạng công nghệ nào, nhưng dịch Covid-19 sẽ khiến các tác động trên diễn ra dồn dập hơn trong khoảng thời gian ngắn hơn trước.
+ Thương mại dịch vụ chịu tác động:
Các thảo luận về thương mại toàn càu trong thời gian qua chỉ thường xoay quanh vấn đề thương mại hàng hóa, tập trung vào ngành sản xuất và nông nghiệp. Mặc dù vậy, dịch Covid-19 cũng sẽ tác động sâu sắc tới ngành dịch vụ. Với một số doanh nghiệp, dịch Covid-19 buộc các hoạt động kinh tế phải diễn tra trên các nền tảng số hoặc dịch vụ đám mây dữ liệu do các doanh nghiệp trên cung cấp.
Khủng hoảng Covid-19 sẽ qua, nhưng ít nhất một phần các khách hàng gia tăng đột biến sẽ ở lại với doanh nghiệp công nghệ ngay cả khi dịch kết thúc. Dịch Covid-19 đã thúc đẩy phạm vi và quy mô áp dụng các dịch vụ trực tuyến trong các ngành công nghiệp vốn có truyền thống phụ thuộc vào tương tác vật lý trực tiếp. Ví dụ nổi bật là với ngành giáo dục và hệ thống trường học, cao đẳng, đại học hiện nay đã buộc phải áp dụng mô hình dạy và học trực tuyến hoàn toàn, thay vì chỉ mở cửa một số lớp học trực tuyến nhỏ giọt như trong quá khứ. Ngành công nghiệp thể hình (“fitness industry”) cũng sẽ trải qua các biến động tương tự: Phòng Gym vật lý có thể sẽ giảm mạnh về quy mô, các huấn luyện viên cá nhân cũng sẽ chuyển dần sang huấn luyện và tư vấn online để học viên tập luyện trong chính phòng khách nhà mình.
Tóm lại, dịch Covid-19 khai phá và thúc đẩy các định hướng phát triển mới trong các ngành công nghiệp vốn thường bị mọi người cho rằng không thể “trực tuyến”, tạo ra cơ hội để các công ty cung cấp những dịch vụ này phát triển các ý tưởng mở rộng xuất khẩu dịch vụ của mình theo hình thức trước đây chưa có. Các doanh nghiệp cũng đang thích nghi với việc để đa số nhân viên của mình làm việc từ xa. Nếu qua dịch bệnh, doanh nghiệp rút ra được các bài học nhằm duy trì năng suất lao động trong bối cảnh nhân viên làm việc từ xa và quyết định thay đổi chiến lược và mô hình quản lý nhân sự, việc tuyển chọn lao động giờ đây phụ thuộc nhiều hơn vào tài năng và ít chịu tác động hơn từ khoảng cách về địa lý.
Đây là tác động tích cực về lâu dài đối với thị trường lao động, làm lợi cho cả người làm công lẫn doanh nghiệp sử dụng nhân công. Tuy nhiên, trong khối ngành dịch vụ thì du lịch sẽ chịu thiệt hại trong ngắn hạn, thậm chí là trung-dài hạn nếu lo ngại về vấn đề sức khỏe không giảm bớt. Giống như việc virus không lây lan và bùng phát đồng loạt trên toàn thế giới cùng một lúc, quá trình phục hồi kinh tế sau dịch cũng sẽ diễn ra không đồng đều trên các khu vực, kéo dài thời gian kinh tế toàn cầu khôi phục hoạt động bình thường. Các cơ sở sản xuất tại TQ đóng cửa đầu tiên nay đã mở cửa trở lại, nhưng các thị trường xuất khẩu mục tiêu của TQ lại đều đang phong tỏa để chống dịch.
Do đó, hoạt động vận tải – và giao thông nói chung – sẽ tiếp tục bị phong tỏa hạn chế trên tất cả các kênh hàng hải, đường bộ và đường không. Điểm sáng hiếm hoi của tác động trên là giảm khí thải toàn cầu.
+ Vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực y tế - dược phẩm:
Virus SARS-CoV-2 đã đặt ra nhu cầu cân bằng giữa bảo vệ sở hữu trí tuệ và tăng cường tiếp cận phổ biến cho người tiêu dùng đối với ngành dược phẩm. Các công ty dược phẩm lớn ủng hộ tăng cường bảo vệ sở hữu trí tuệ, cho rằng trong bối cảnh dịch bệnh bùng phát, chỉ có đảm bảo quyền lợi về bản quyền mới có thể thúc đẩy các ông lớn dược phẩm sẵn sàng rót vốn ồ ạt nhằm sớm nghiên cứu ra thuốc và vaccine nhằm chữa trị các bệnh dịch mới.
Ngược lại, các nhà sản xuất dược phẩm phổ cập (generic drug) và những người ủng hộ tăng cường tiếp cận phổ cập về thuốc men cho rằng bản quyền quá gắt gao sẽ cản tiếp cận của con người đối với các loại thuốc có thể cứu lấy sinh mạng của người bệnh và giúp cản trở dịch bệnh bùng phát. Tranh chấp giữa hai luồng quan điểm trên không mới và sẽ tiếp tục nóng lên ngay cả sau khi Covid-19 kết thúc, tuy nhiên, Covid-19 với ảnh hưởng toàn cầu đã khiến phe ủng hộ phổ cập tiếp cận dược phẩm hiện có dấu hiệu thắng thế.
Nhiều nước như Đức và Canada đã ban hành hoặc cân nhắc xây dựng hành lang pháp lý cho phép nhà nước cưỡng chế sản xuất thuốc ở quy mô lớn mà không cần đồng thuận từ bên nắm bản quyền dược phẩm trong các trường hợp cần thiết. Cơ chế cưỡng bức sản xuất trên vốn đã là chủ đề nóng trong các tranh luận về chính sách với thương mại quốc tế, nay được Covid-19 tác động theo hướng ủng hộ phổ cập thay vì giữ chặt lấy quyền bản quyền, xu hướng trên có thể tiếp tục kéo dài ngay cả khi dịch Covid-19 kết thúc.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
