8 nhóm hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD trong năm 2024
Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, tháng 12/2024, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 70,53 tỷ USD, tăng 6,2%, tương ứng tăng 4,13 tỷ USD so với tháng trước.
Một số nhóm hàng xuất khẩu chính
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong tháng 12/2024 là 7,33 tỷ USD, tăng 17,8% so với tháng trước.Tính chung, trong năm 2024 trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 72,58 tỷ USD, chiếm tới 18% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 26,6% (tương ứng tăng 15,26 tỷ USD) so với năm trước.
Xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong năm 2024 sang Hoa Kỳ, EU(27 nước), Hồng Kông, Hàn Quốc tăng mạnh, trong khi đó xuất sang Trung Quốc lại giảm. Cụ thể, xuất sang Hoa Kỳ với 23,2 tỷ USD, tăng 36,3%; Trung Quốc với 12,64 tỷ USD, giảm 3,1%; EU (27 nước) với 9,9 tỷ USD, tăng 63,7%; Hồng Kông với 8,16 tỷ USD, tăng 47,3%; Hàn Quốc với 5,73 tỷ USD, tăng 18,6% so với năm trước.
- Điện thoại các loại và linh kiện: xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 12/2024 là 3,65 tỷ USD, giảm 3,2% so với tháng trước. Qua đó nâng mức trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2024 lên 53,89 tỷ USD, đứng ở vị trí thứ hai trong tất cả các nhóm hàng và chiếm 13% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước. Với kết quả này, xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện tăng 2,9% so với năm trước, nhưng vẫn giảm 7,1% so với năm 2022.
Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong năm 2024 chủ yếu sang các thị trường như Trung Quốc với 15,44 tỷ USD, giảm 8,5%; Hoa Kỳ với 9,82 tỷ USD, tăng 24,3%; EU (27 nước) với 6,28 tỷ USD, giảm 12,8% so với năm trước.
- Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: tháng 12/2024, xuất khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 4,39 tỷ USD, giảm 6,3% so với tháng trước. Tính chung trong năm 2024, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 52,19 tỷ USD, đứng vị trí thứ ba trong tất cả các nhóm hàng và tăng 21% (tương ứng tăng 9,06 tỷ USD) so với năm trước.
Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong năm 2024 sang thị trường Hoa Kỳ đạt 22,05 tỷ USD, tăng 21,2% và EU(27 nước) đạt 7,36 tỷ USD, tăng 23,7% so với năm trước. Tính chung, xuất khẩu sang máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng sang 2 thị trường này đạt 29,41 tỷ USD, chiếm 56% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Hàng dệt may: tháng 12/2024, xuất khẩu hàng dệt may đạt 3,37 tỷ USD, tăng 10,6% so với tháng trước. Tính chung, trong năm 2024, trị giá xuất khẩu hàng dệt may đạt 37,04 tỷ USD, tăng 11,2% (tương ứng tăng 3,72 tỷ USD) so với năm trước.
Trong năm 2024, xuất khẩu nhóm hàng dệt may sang Hoa Kỳ đạt 16,15 tỷ USD, tăng 11,6%; Nhật Bản đạt 4,33 tỷ USD, tăng 6,7%; EU (27 nước) đạt 4,32 tỷ USD, tăng 12,2% và Hàn Quốc đạt 3,15 tỷ USD, tăng 3,3% so với năm trước.
Giày dép các loại: tháng 12/2024, xuất khẩu giày dép các loại đạt 2,11 tỷ USD, giảm 2,4% so với tháng trước. Tính chung, trong năm 2024, xuất khẩu nhóm hàng này đạt 22,87 tỷ USD, tăng 13% (tương ứng tăng 2,64 tỷ USD) so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu giày dép các loại của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 18,11 tỷ USD, tăng 11,1%, chiếm tỷ trọng 79% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước; xuất khẩu giầy dép các loại của doanh nghiệp trong nước là 4,76 tỷ USD, tăng 21% và chiếm tỷ trọng 21%.
Các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong năm 2024 là Hoa Kỳ đạt 8,28 tỷ USD, tăng 15,7%; EU (27 nước) đạt 5,82 tỷ USD, tăng 18,5%; Trung Quốc đạt 1,91 tỷ USD, tăng 2,3%; Nhật Bản đạt 1,09 tỷ USD, tăng 3,8% so với năm trước.
Gỗ và sản phẩm gỗ: trị giá xuất khẩu trong tháng 12/2024 đạt 1,57 tỷ USD, tăng 7,4% so với tháng trước. Tính chung trong năm 2024, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 16,28 tỷ USD, tăng mạnh 20,9% (tương ứng tăng 2,81 tỷ USD) so với năm trước.
Trong năm 2024, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, với 9,06 tỷ USD, tăng mạnh 24% (tương ứng tăng 1,75 tỷ USD) và chiếm 56% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
- Hàng thủy sản: tháng 12/2024, xuất khẩu hàng thủy sản đạt 874 triệu USD, giảm 4,8% so với tháng trước. Tính chung, trong năm 2024, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 10,04 tỷ USD, tăng 11,9%, tương ứng tăng 1,07 tỷ USD so với năm trước.
Trong năm 2024, hàng thủy sản của Việt Nam chủ yếu xuất sang các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ với 1,83 tỷ USD, tăng 17,6%; Trung Quốc với 1,73 tỷ USD, tăng 29,4%; Nhật Bản với 1,53 tỷ USD, tăng 1,1%; EU(27 nước) với 1,04 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm trước.
- Hàng rau quả: tháng 12/2024, xuất khẩu hàng rau quả đạt 529 triệu USD, tăng 15,5% so với tháng trước. Tính chung, xuất khẩu hàng rau quả trong năm 2024 đạt 7,15 tỷ USD, tăng 27,6% (tương ứng tăng 1,55 tỷ USD) so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu quả sầu riêng (mã HS 0810.60.00) đạt 3 tỷ USD, tăng tới 42,5%, tương ứng tăng 893 triệu USD so với năm trước và chiếm tỷ trọng 42% trong tổng trị giá xuất khẩu hàng rau quả của cả nước. Bên cạnh đó, xuất khẩu quả thanh long (mã HS 0810.90.92) trong năm 2024 là 493 triệu USD, lại giảm 17,3% so với năm trước.
Trong năm 2024, hàng rau quả của Việt Nam chủ yếu xuất sang Trung Quốc với 4,63 tỷ USD, tăng 27,3% (tương ứng tăng 993 triệu USD) so với năm trước và chiếm 65% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
- Gạo: lượng gạo xuất khẩu của cả nước trong năm 2024 đạt mức cao nhất từ trước tới nay với 9,03 triệu tấn, tăng 11,1% so với năm trước và trị giá đạt 5,67 tỷ USD, tăng 21,2%
Gạo của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường ASEAN với 6,43 triệu tấn, chiếm 71% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và tăng 31% so với năm trước. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Trung Quốc là 285 nghìn tấn, giảm tới 69% so với năm trước.
Bạn muốn trở thành VIP/PRO trên 24HMONEY?
Bấm vào đây để liên hệ 24HMoney ngay

Bàn tán về thị trường