Tín dụng tăng tốc, nợ xấu "chạy" nhanh hơn
Dữ liệu từ SSI Research và VDSC cho thấy sự phân hóa chất lượng tài sản rõ nét khi Vietcombank duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp nhất ngành (0,61%), trong khi một số nhà băng quy mô vừa và nhỏ ghi nhận nợ xấu tăng trên 50-60%. Áp lực trích lập dự phòng sẽ trở thành rào cản lớn nhất đối với các ngân hàng có bộ đệm dự phòng mỏng dưới 60%.
Tổng nợ xấu (nhóm 3 đến 5) của 27 ngân hàng niêm yết đạt 312.108,5 tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025. Đáng chú ý, tốc độ gia tăng này cao hơn đáng kể mức tăng 10,4% của dư nợ cho vay khách hàng trong cùng kỳ. Diễn biến này phản ánh áp lực chất lượng tín dụng khi quy mô các khoản vay mở rộng nhưng nợ quá hạn lại tăng nhanh hơn. Trong 23 trên 27 ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng, áp lực phân loại nợ và trích lập dự phòng bắt đầu gia tăng.
Về quy mô tuyệt đối, Sacombank dẫn đầu với gần 48.000 tỷ đồng nợ xấu (tăng 19%), tiếp theo là BIDV với 45.700 tỷ đồng (tăng 31%), VPBank 38.000 tỷ đồng (tăng 21%) và VietinBank 25.000 tỷ đồng (tăng 14%). Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng, ABBank nổi bật nhất với mức tăng 62%, TPBank 59%, HDBank 38%. Ngược lại, chỉ ba ngân hàng ghi nhận giảm nợ xấu: VietBank giảm 27%, Nam A Bank giảm 24% và Saigonbank giảm 1%. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của nhóm tăng từ 1,85% cuối 2025 lên 2,01% cuối quý 2/2026.
Vietcombank tiếp tục giữ vị trí hàng đầu với tỷ lệ nợ xấu 0,61%, là ngân hàng duy nhất duy trì dưới 1%. ACB đứng thứ hai với 1,03%, Techcombank thứ ba với 1,08%. Bac A Bank có 1,13%, VietinBank 1,2%, ABBank cũng 1,2% nhưng tăng đáng chú ý từ 0,85%. Trong nhóm 10 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất, bốn đơn vị cải thiện chất lượng tài sản (Bac A Bank, VietABank, Nam A Bank, KienLongBank) còn sáu ngân hàng khác ghi nhận tỷ lệ tăng.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngành đã giảm xuống khoảng 83% trong quý 2/2026, từ 86% trong quý 1 và 95% cùng kỳ năm 2025. Điều này có nghĩa lượng dự phòng được sử dụng để bao phủ các khoản nợ không tăng tương ứng với quy mô nợ xấu, khiến chi phí dự phòng có thể trở thành biến số lớn đối với lợi nhuận ngân hàng nửa cuối năm. Đặc biệt, những ngân hàng có tỷ lệ bao phủ dưới 60% sẽ chịu áp lực cao hơn.
Theo phân tích, ba biến số quan trọng cần được theo dõi là: tốc độ hình thành nợ nhóm 2 khi mặt bằng lãi suất được kỳ vọng tạo đỉnh; khả năng duy trì nguồn thu hồi nợ ngoài bảng trong bối cảnh thanh khoản bất động sản chưa thuận lợi; và tốc độ củng cố bộ đệm dự phòng tại những ngân hàng có lượng nợ xấu hình thành ròng lớn. Các ngân hàng sở hữu dự phòng dày, kiểm soát tốt chất lượng tín dụng sẽ có dư địa bảo vệ lợi nhuận tốt hơn.
Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành đã lên mức cao nhất trong một quý 2 kể từ 2020, với xu hướng suy giảm chất lượng tài sản lan rộng hơn. Dù vậy, tín dụng dự kiến duy trì tích cực nhờ nhu cầu vốn từ các dự án hạ tầng. Lợi nhuận toàn ngành được kỳ vọng tiếp tục tăng, nhưng bức tranh sẽ phân hóa mạnh hơn, tùy thuộc vào sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản và khả năng trích lập dự phòng của từng ngân hàng.
Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?
Liên hệ tư vấn ngay
Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?
Đăng ký ngay
