menu
Lộ trình phục hồi NIM ngân hàng và bài toán đánh đổi lợi suất - rủi ro
Phạm Đình Đạt
24HMoney đã kiểm duyệt 24HMONEY đã kiểm duyệt

Lộ trình phục hồi NIM ngân hàng và bài toán đánh đổi lợi suất - rủi ro

NIM bình quân của các ngân hàng tiếp tục suy giảm trong quý 1/2026, chịu sức ép lớn từ độ trễ của chi phí huy động vốn. Trong bối cảnh việc tăng lãi suất cho vay ẩn chứa nhiều rủi ro nợ xấu, các nhà băng buộc phải tìm kiếm điểm tựa mới từ thu nhập dịch vụ, mở rộng quy mô tín dụng và tối ưu hóa tệp khách hàng để duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận bền vững.

NIM quý 1 tiếp tục giảm

Dữ liệu từ VietstockFinance cho thấy, biên lãi ròng (NIM - Net Interest Margin) bình quân của 28 ngân hàng quý 1/2026 là 2.87%, giảm so với mức 2.93% ở quý 4/2025. Có 20 ngân hàng sụt giảm NIM so với quý trước.

VPBank là ngân hàng có hệ số NIM cao nhất, đạt 5.17%; kế đến là HDBank (HDB, 4.41%), KienlongBank (KLB, 4.06%), MB (MBB, 3.85%) và Techcombank (TCB, 3.66%).

NIM quý 1/2026 của các ngân hàng (Đvt: %)

Lộ trình phục hồi NIM ngân hàng và bài toán đánh đổi lợi suất - rủi ro

Nguồn: VietstockFinance

NIM khó phục hồi trong ngắn hạn

Ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi cho rằng, ngành ngân hàng trong quý 1 đang chịu sức ép kép khi vừa đối mặt với NIM suy giảm, vừa chứng kiến một số nguồn thu ngoài lãi đi xuống. Đây là tín hiệu cho thấy dư địa tăng trưởng lợi nhuận của ngành đang thu hẹp đáng kể so với giai đoạn trước.

Áp lực lên NIM chủ yếu xuất phát từ việc chi phí huy động tăng nhanh hơn khả năng mở rộng lãi suất cho vay. Khi lãi suất tiết kiệm tăng để giữ chân dòng tiền, đặc biệt trong bối cảnh CASA suy giảm, chi phí vốn của ngân hàng bị đẩy lên rõ rệt. Trong khi đó, các ngân hàng lại không thể tăng mạnh lãi suất đầu ra vì doanh nghiệp hiện đã chịu áp lực lớn về dòng tiền và chi phí tài chính.

Nói cách khác, ngân hàng đang ở trong trạng thái bị “kẹp giữa” áp lực giữ thanh khoản và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nếu đẩy lãi suất cho vay lên quá cao, nguy cơ nợ xấu sẽ còn lớn hơn; nhưng nếu giữ lãi suất thấp trong khi chi phí vốn tăng, NIM sẽ tiếp tục bị co hẹp.

Trong khi đó, các nguồn thu ngoài lãi như dịch vụ, bancassurance, ngoại hối hay đầu tư tài chính cũng suy giảm do tâm lý phòng thủ của thị trường. Khi doanh nghiệp trì hoãn mở rộng sản xuất, người dân thận trọng hơn với đầu tư và tiêu dùng, nhu cầu sử dụng các sản phẩm tài chính giá trị gia tăng cũng giảm theo.

Theo ông Huy, NIM trong các quý tới có thể cải thiện nhẹ nếu áp lực huy động dần hạ nhiệt và dòng tiền quay trở lại hệ thống ngân hàng sau giai đoạn cao điểm tích trữ vàng và tiết kiệm lãi suất cao. Tuy nhiên, khả năng phục hồi mạnh sẽ không dễ xảy ra trong ngắn hạn, bởi môi trường kinh tế toàn cầu hiện vẫn tiềm ẩn nhiều biến số khó lường - từ giá dầu, lạm phát cho tới căng thẳng địa chính trị và rủi ro chuỗi cung ứng.

Ông Bùi Văn Huy - Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Khối Nghiên cứu Đầu tư tại CTCP FIDT cho rằng, NIM của ngành ngân hàng vẫn chịu áp lực trong ngắn hạn, đặc biệt trong quý 2. Nguyên nhân là chi phí vốn thường phản ánh với độ trễ sau giai đoạn lãi suất huy động tăng, trong khi lợi suất tài sản không thể điều chỉnh ngay cùng tốc độ. Các khoản vay trung dài hạn, khoản vay có lãi suất ưu đãi và áp lực hỗ trợ khách hàng khiến ngân hàng khó tăng lãi suất cho vay quá nhanh.

Số liệu quý 1 cho thấy, NIM bình quân của nhóm ngân hàng quan sát khoảng 3.04%, trong khi chi phí vốn bình quân đã lên khoảng 3.9%. Một số ngân hàng vẫn duy trì NIM cao như VPB, HDB, MBB và TCB; nhưng đây cũng là các ngân hàng phải cân đối giữa lợi suất cao và rủi ro chất lượng tài sản. Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng quốc doanh có NIM thấp hơn, nhưng lại có lợi thế về chi phí vốn, chất lượng tài sản và bộ đệm dự phòng.

Lộ trình phục hồi NIM ngân hàng và bài toán đánh đổi lợi suất - rủi ro

Nguồn: FIDT

Trong quý tiếp theo, NIM có thể ổn định hơn, nhưng khó cải thiện mạnh ngay. Điều kiện để NIM phục hồi gồm: Lãi suất huy động ngừng tăng, CASA không giảm thêm, các khoản vay hiện hữu được tái định giá, và tăng trưởng tín dụng tập trung vào các phân khúc có lợi suất hợp lý nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro. Nếu chỉ tăng lãi suất cho vay để cải thiện NIM, ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro nợ xấu cao hơn, nhất là ở nhóm khách hàng SME, bất động sản và bán lẻ.

Theo ông Huy, triển vọng cải thiện NIM rõ hơn có thể xuất hiện từ nửa cuối năm 2026, nếu thanh khoản hệ thống bớt căng và huy động cải thiện. Tuy nhiên, mức độ cải thiện sẽ phân hóa mạnh. Các ngân hàng có CASA cao, tệp khách hàng giao dịch lớn, tỷ lệ cho vay ngắn hạn cao và chất lượng tài sản tốt sẽ bảo vệ NIM tốt hơn. Ngược lại, các ngân hàng có chi phí vốn cao, tỷ lệ LDR cao, tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp hoặc danh mục cho vay nhạy cảm với bất động sản và tiêu dùng sẽ chịu áp lực lâu hơn.

Nhìn chung, lợi nhuận ngân hàng quý 1 vẫn tích cực, nhưng chất lượng tăng trưởng đã kém thuận lợi hơn. Điểm cần theo dõi trong các quý tới không chỉ là lợi nhuận trước thuế, mà là 4 biến số: Nợ xấu mới hình thành, CASA, chi phí vốn và khả năng giữ NIM. Nếu 4 biến số này không cải thiện, tăng trưởng lợi nhuận sẽ khó duy trì bền vững, dù tín dụng vẫn tăng.

Lộ trình ngân hàng cải thiện NIM

Trước đó, tại ĐHĐCĐ thường niên năm 2026, Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) - ông Phạm Như Ánh - cho rằng, việc gia tăng tổng tài sản và quy mô tín dụng chính là chiến lược nhanh nhất để gia tăng tổng lợi nhuận trong điều kiện NIM dự kiến sẽ tiếp tục thu hẹp. Nguyên nhân của việc thu hẹp NIM trong năm 2026 là do chi phí đầu vào vẫn duy trì ở mức cao trong khi lãi suất đầu ra không thể tăng mạnh nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp.

Trong khi đó, Chủ tịch Đặng Khắc Vỹ của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) chia sẻ: mặt bằng lãi suất huy động cao trong khi lãi suất cho vay bán lẻ lại rất thấp đã gây áp lực trực tiếp lên NIM. Dù vậy, để bù đắp, VIB đã đẩy mạnh thu nhập từ phí dịch vụ (tăng trưởng đều đặn 15 - 25%). VIB không chạy đua lãi suất cho vay rủi ro cao mà đi từ thu nhập tổng thể của từng khách hàng (bao gồm tín dụng và dịch vụ). Do đó, NIM của VIB trong năm 2026 dự kiến sẽ duy trì ổn định ở mức hợp lý.

Ông Phạm Hồng Hải - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) - chia sẻ, ngân hàng định hướng đẩy mạnh cho vay các sản phẩm có lợi suất cao đi kèm rủi ro có thể chấp nhận được, cơ cấu lại tài sản sinh lãi theo hướng tập trung sản phẩm có lãi suất cao, nhờ đó cải thiện về NIM cũng như quy mô.

Tổng Giám đốc Nguyễn Đức Vinh của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) dự báo mặt bằng lãi suất huy động sắp tới đi ngang và giảm dần sẽ giảm bớt áp lực chi phí vốn. Trong quý 1/2026, NIM trung bình của ngân hàng mẹ VPBank duy trì ở mức tốt (đạt 4.53% - 4.6%). Dự kiến NIM cả năm 2026 của ngân hàng mẹ sẽ tiếp tục duy trì ổn định quanh mức 4.4%. Dù chịu áp lực cạnh tranh, đây vẫn là mức NIM cao hàng đầu trong nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần, nhờ vào chiến lược tối ưu hóa danh mục sản phẩm và cơ cấu cho vay đa dạng của VPBank.

Theo dõi 24HMoney trên GoogleNews
Cảnh báo Nhà đầu tư lưu ý
Cảnh báo

Kết nối truyền thông
cùng 24HMONEY ?

Liên hệ tư vấn ngay

Bạn muốn trở thành
VIP/Pro ?

Đăng ký ngay